Ảnh khỏa thân đã không còn xa lạ và bị khắt khe như trước, giờ đây người mẫu chụp ảnh khỏa thân đã trở thành một loại hình nghệ thuật. Với những hình ảnh người mẫu khỏa thân 100% không che, khoe từng đường cong trên cơ thể ma tạo hóa đã ban tặng cho loài
29/03/2018 | 18:19. TPO - Thần Vệ Nữ thành Milo, Lực sĩ ném đĩa hay Người đeo vòng nguyệt quế là những bức tượng khỏa thân kinh điển của lịch sử nghệ thuật thế giới. Tượng David do nhà điêu khắc nổi tiếng Michelangelo làm từ năm 1501 đến 1504, trở thành một kiệt tác
Miền quê yêu tiếng hát chèo. Những ngày này, khi ruộng lúa xuân vừa được cấy ngơi tay, người nông dân lại tất tả với đủ thứ việc không tên của làng, của nghề. Trong bộn bề công việc, tiếng hát chèo ngọt ngào của những “nghệ sĩ nông dân” thuộc Câu lạc bộ hát
Phân tích hình ảnh nắm lá ngón trong Vợ chồng A Phủ gồm 3 dàn ý và 8 bài văn mẫu hay, đạt điểm cao của các bạn học sinh giỏi.
The precise nozzle and ink path made by Epson's unique MEMS technology enable the ejected ink droplets to be close to a perfect circle, and at the same time to be precisely positioned.Epson's unique VSDT (Variable Droplet Technology) can freely control the size of the ejected ink droplets, thereby reducing the graininess of the picture, showing more picture details, smooth color transition and
Cùng Tường Vip chiêm ngưỡng một vài bộ tranh khoả thân tuyệt đẹp, tràn đầy sức sống, ắt hẳn “hút hồn” bạn ngay lần đầu tiên. Đối với tranh khỏa thân nghệ thuật hiện đại chủ yếu hướng đến nét đẹp thẩm mỹ hình thể mà nhiều người mong ước sở hữu.
Vì sao cần PHÂN TÍCH KỸ THUẬT cần kết hợp Đông – Tây? Thứ Tư, 10-11-2021 | 10:00 GTM+7. Chia sẻ. Bản thân kỹ thuật nến đã là công cụ giao dịch có giá trị. Nhưng chúng còn mang ý nghĩa mạnh mẽ hơn nếu chúng xác nhận một hoặc nhiều tín hiệu kỹ thuật phương Tây. Đây
Vay Tiền Trả Góp 24 Tháng. Tranh vẽ nghệ thuật trên cơ thể nude của các cô gáiNhững hình ảnh thiên nhiên tuyệt đẹp được tô điểm trên cơ thể tuyệt đẹp của những cô gái. Những phong cảnh nhiên nhiên hùng vĩ và những vẻ đẹp tiềm ẩn của những cô gái hoà quyện làm cho bức tranh trở nên sinh động hơn rất nhiều. Tôi nghĩ rằng đây là những bức hình nghệ thuật hài hước đẹp tuyệt vời và tôi cảm thấy rất tiếc rằng những hình ảnh đó biến mất sau khi các cô gái đã tắm … Đôi khi nghệ thuật vẽ trên cơ thể rất là tuyệt đẹp…Những chú cá vàng thong thả bơi xung quanh những cây Hải tổng hợp
Từ thời xa xưa, “chân, thiện, mỹ” luôn là cảnh giới lý tưởng mà các nghệ thuật gia theo đuổi. Nếu như phù hợp với “chân, thiện, mỹ”, tác phẩm nghệ thuật đó chắc chắn là một tác phẩm hoàn hảo. Ngày nay, tiêu chuẩn này dường như đã thay đổi, nhưng vẫn có một ngoại lệ, Cố Nhã Nhân, họa sĩ vẽ tranh tĩnh vật người Đài Loan. Quan niệm nghệ thuật biến đổi Khi các nghệ sĩ, giáo viên hoặc sinh viên các trường nghệ thuật được hỏi, rằng Nghệ thuật có phải bắt buộc phù hợp với “chân, thiện, mỹ” không? Đa số họ sẽ trả lời rằng, đó là một quan niệm lỗi thời, nghệ thuật hiện đại chính là phải lật đổ truyền thống, phải sáng tạo ra cái mới, phải thoát khỏi các trói buộc, phải biểu hiện sự đặc biệt của tự thân… Sự thật là như vậy, lịch sử nghệ thuật phương Tây thường dùng các khái niệm như “quá khứ tiêu cực” bước tới “chuyển tiếp“. Do đó nghệ thuật thuộc các thể loại khác nhau liên tục không ngừng thay đổi. Họ cho rằng “thay đổi” là mới, mang tính cách mạng, đó là sự tiến bộ. Hãy tưởng tượng về hơn một trăm năm trước đây, chẳng hạn nếu đem một bức tranh của nước Pháp, trong đó có vẻ đẹp lý tưởng và độ chân thực chính xác của hội họa phái học viện sáng tạo dành cho giới chủ lưu, mà so sánh với một bức tranh ấn tượng với những nét cọ thô, màu sắc pha trộn tạp loạn, chắc sẽ trở thành trò cười cho người xem. Nhưng xu hướng lịch sử có vẻ như đang bị một bàn tay vô hình đẩy về phía bên kia. Niềm tin truyền thống vào trật tự và thẩm mỹ, cùng theo quy luật “thành, trụ, hoại, diệt” của lịch sử mà dần dần sụp đổ. Tranh ấn tượng như nói trên chỉ là một sự khởi đầu của suy thoái. Bắt đầu với trường phái Ấn tượng, sau đó là liên tiếp không ngừng xuất hiện những loại hình nghệ thuật biến hóa muôn màu muôn vẻ. Chúng đều có điểm chung là nhằm lật đổ các giá trị thẩm mỹ truyền thống. Vì thế, họa sĩ giống như Cổ Nhã Nhân trở thành một trong số rất ít nghệ sĩ còn theo đuổi thẩm mỹ truyền thống. Họa sĩ Cổ Nhã Nhân Ảnh Về con đường của họa sĩ Cổ Nhã Nhân Cổ Nhã Nhân sinh năm 1975, là người Đài Loan. Anh là cựu sinh viên trường Đại học Nghệ thuật Đài Loan, đã từng tổ chức rất nhiều triển lãm tranh trong nước và thế giới. Năm 2016, tác phẩm của anh được lọt vào top 100 trong cuộc thi vẽ màu nước thế giới tổ chức tại Đài Loan. Để tuân thủ vững chắc các khái niệm cổ điển trong môi trường biến động của nghệ thuật đương đại, đối với anh không phải là điều dễ dàng. Không chỉ cần sự dũng cảm, mà còn là niềm tin vững chắc vào con đường mà mình đã chọn. Cổ Nhã Nhân trung thành với trái tim của mình, cùng với suy nghĩ lý tính, nắm chắc chân lý, khiến tự nhiên có thể kiên định. Cổ Nhã Nhân cho là “Sáng tác nhất định phải gắn liền với suy nghĩ trong tâm, phải trung thành với bản thân mình“. Khi trái tim của bạn ở đúng vị trí, cộng thêm ý tưởng. Lúc này mang chúng vào hội họa, bàn tay của bạn sẽ không ngừng giúp bạn thực hiện ý tưởng đó. “Tam dương khai thái” – Cổ Nhã Nhân Ảnh epochtimes Lý do khiến Cổ Nhã Nhân quyết tâm như vậy là vì sự tin tưởng của anh đối với văn hóa truyền thống. Anh nhấn mạnh những triết lý cổ đại gắn liền với con đường hội họa của bản thân. Anh nhớ lại lần gặp một lão sư dạy Thái Cực Quyền trong công viên “Lúc đó tôi mới giải ngũ, nặng 70 kg, cơ thể rất cường tráng. Lão sư phụ đó đã bảy mươi tuổi, thân hình khá nhỏ bé. Ông nói giọng miền quê, nói với tôi một câu Anh hãy tới đẩy ta xem!’ Tôi lúc ấy nghĩ thấy thật xấu hổ nếu đẩy một ông già gầy gò như vậy. Lão sư lại nói tiếp Không thành vấn đề, cứ việc đẩy!’ Lúc ấy tôi mới tới đẩy lão sư một cái; ông vẫn đứng yên, không có bất kỳ sự dịch chuyển nào. Sau đó tôi dùng toàn lực của bản thân để đẩy lão sư, nhưng ông vẫn hoàn toàn bất động!“ “Hoa quan quần luân” – Cổ Nhã Nhân Ảnh epochtimes “Lúc ấy rất nhiều người ngoại quốc đang theo học lão sư này. Người Tây phương thường quan niệm rằng người luyện thân thể trông phải rắn chắc, lấy sức lực khuất phục người khác. Nhưng lão sư mỗi ngày đều dạy họ phải buông lỏng, không nên dùng lực; bởi thời điểm khi con người buông lỏng, sức mạnh của mặt đất sẽ cùng mình kết hợp. Nhìn bề ngoài, dường như lão sư 70 tuổi này không có chút sức lực nào, nhưng khi đẩy ông lại không hề bị ngã. Điều này làm những người ngoại quốc đều cảm thấy hết sức thần kì…” Cổ Nhã Nhân lại nói tiếp “Lúc ấy tôi muốn học cũng không học được, vì lão sư gọi cái đó là Kung Fu, mà Kung Fu chính là thời gian; không phải chỉ học chiêu thức bên ngoài là đủ. Giống như khi bạn học Trung y, không phải cứ tốt nghiệp trường y khoa là có thể thành bác sĩ Trung y. Trước kia muốn học, phải có thầy dẫn dắt; phải ở bên cạnh người thầy mà học cả đời, như vậy mới là sự truyền thừa hoàn chỉnh“. Nghệ thuật chân chính cũng vậy, phải bỏ công phu đi thể nghiệm, đi học tập, không thể đi đường tắt mà không qua quá trình rèn luyện. Cũng cần sử dụng thời gian để trau dồi, cảm nhận, đi trao đổi với người khác để cải thiện, mới có thể sinh ra những biến hóa mới. “Phú quý thịnh khai” – Cổ Nhã Nhân Ảnh epochtimes Hồn cốt phương Đông trong kỹ thuật chân thực phương Tây Nhiều người hiện đại không có hiểu biết sâu sắc về những điều tốt đẹp truyền thống. “Tôi cảm thấy thật đáng tiếc khi chúng ta đã từ bỏ trí tuệ truyền thống bác đại tinh thâm trong văn hóa của mình“. Mặc dù Cổ Nhã Nhân học hỏi kỹ thuật hội họa cổ điển phương Tây, nhưng vì anh đổi với văn hóa Đông phương có một thể ngộ sâu sắc, nên khi sáng tác anh có thể đưa vào tranh nội hàm đặc biệt trầm tĩnh của văn hóa phương Đông. Đối với anh, hai nền văn hóa truyền thống không những không xung đột, mà còn có thể hòa hợp nhờ một thái độ hướng nội và hòa nhập. Nhưng cũng phải nói, đây chính là kết quả của một phen luyện tập ý chí cùng với sự theo đuổi đến cùng của người nghệ sĩ. “Hội họa phương Tây là bắt hình dạng, nhưng họa sĩ phương Đông lại là bắt thần thái. Chúng ta phải phải lấy hình mà truyền thần, lại không thể để bị mắc kẹt trong hình dạng. Điều đó rất khó khăn và trừu tượng. Trong triết học phương Đông có một khái niệm gọi là “ít hơn cũng là nhiều hơn”; làm sao có thể thực hiện điều đó? Khái niệm “Trống rỗng” thật ra lại không trống rỗng; “trống rỗng” chính là vô hạn; suy xét theo lý này có thể sẽ dễ hiểu hơn. Nhưng khi chúng ta muốn biến khái niệm này thành một tác phẩm nghệ thuật và trở thành một hiệu ứng hình ảnh, thì sẽ có nhiều điều cần phải suy xét“. – Cổ Nhã Nhân nói. “Vẻ đẹp của sự yên tĩnh” – Cổ Nhã Nhân Ảnh epochtimes “Có người hỏi tôi tại sao lại thích vẽ tĩnh vật. Tôi nói, chỉ khi vẽ tĩnh vật tôi mới thấy được sự thay đổi của thời gian. Giống như những quả bí ngô tôi vẽ lúc nó còn tươi, sau đó chúng bắt đầu khô héo“. Theo đuổi cái tĩnh, giống như theo đuổi nội tâm của mình, có thể là thái độ sống của Cổ Nhã Nhân. Anh chia sẻ “Đôi khi trong giờ học vẽ tôi yêu cầu sinh viên trước khi vào phòng vẽ phải để tất cả mọi thứ ở ngoài, buông tâm xuống, để nó trống không…. Điều tương tự cũng đúng với những bức tranh của tôi. Tôi chỉ có thể nghe piano hoặc cổ cầm, không thể nghe những thể loại nhạc ồn ào. Khi tâm bạn bằng phẳng như hồ nước, bạn sẽ là người nhạy cảm, gió thổi tới cũng không rung động“. “Phú quý trình tường” – Cổ Nhã Nhân Ảnh epochtimes Họa sĩ Cổ Nhã Nhân đã đi một con đường khác với nhiều nghệ sĩ đương đại. Anh trân trọng trí huệ của người xưa và lắng nghe con người thật của mình một cách chân thành và khiêm tốn. Anh không muốn hỏi bất cứ điều gì, mà sẽ tự mình đi tìm câu trả lời. Theo cách này, nền tảng nghệ thuật và phẩm chất cá nhân của Cổ Nhã Nhân được tăng cường qua sự tu luyện bản thân và thể ngộ sâu sắc, sẽ phản ánh một cách tự nhiên trong sáng tạo nghệ thuật. Theo Uyển Vân biên dịch Xem thêm
Nền tảng của lịch sử nghệ thuật có thể bắt nguồn từ hàng chục nghìn năm khi các nền văn minh cổ đại sử dụng các kỹ thuật và phương tiện sẵn có để mô tả các chủ đề có ý nghĩa văn hóa. Nhiều phong trào nghệ thuật đã ra đời, mỗi phong trào mang những phong cách và đặc điểm riêng biệt phản ánh nền chính trị và xã hội của thời kỳ mà chúng xuất dù bạn là một nhà sưu tập đầy tham vọng hay chỉ là một nhà phê bình nghệ thuật thì việc nghiên cứu các chuyển động chính của lịch sử nghệ thuật là một điểm đáng để bắt đầu. Các thể loại nghệ thuật có ảnh hưởng từ thời Phục hưng đến sự trỗi dậy của chủ nghĩa Hiện đại chắc chắn đã ghi dấu ấn trong lịch sử. Với nhiều nghệ sĩ ngày nay như Banksy, Kerry James Marshall, Mickalene Thomas và Kehinde Wiley luôn truyền tải các tham chiếu lịch sử nghệ thuật vào các tác phẩm đương đại, việc hiểu được bối cảnh lịch sử và ý nghĩa của từng thời kỳ và phong trào là rất quan trọng đối với các nhà sưu tập cũng như những người đam mê nghệ thuật. Dưới đây là dòng thời gian toàn diện của các phong trào nghệ thuật khám phá các đặc điểm, những người đóng góp hàng đầu và những ảnh hưởng quan trọng của từng thời kỳ nổi bật trong lịch sử nghệ thuật phương Tây. Nghệ thuật Tiền sử ~ trước Công nguyên Nguồn gốc của lịch sử nghệ thuật có thể được bắt nguồn từ thời Tiền sử, trước khi các ghi chép bằng văn bản được lưu giữ. Các hiện vật sớm nhất đến từ thời kỳ đồ đá cũ, hoặc thời kỳ đồ đá cũ, dưới dạng chạm khắc trên đá, bản khắc, hình ảnh, tác phẩm điêu khắc và sắp xếp đá. Nghệ thuật từ thời kỳ này dựa vào việc sử dụng các chất màu tự nhiên và chạm khắc trên đá để tạo ra các hình tượng đại diện cho các đồ vật, động vật và các nghi lễ chi phối sự tồn tại của một nền văn minh. Một trong những ví dụ nổi tiếng nhất là những bức tranh hang động thời kỳ đồ đá cũ được tìm thấy trong các hang động phức tạp của Lascaux ở Pháp. Mặc dù được phát hiện vào năm 1940, chúng được ước tính lên đến năm tuổi và mô tả các loài động vật và thảm thực vật lớn trong khu vực. Tranh vẽ trên tường đá tại hang Lascaux, Pháp Nghệ thuật cổ đại trước Công nguyên - 400 trước Công nguyên Nghệ thuật cổ đại được tạo ra bởi các nền văn minh tiên tiến, trong trường hợp này là những nền văn minh có ngôn ngữ viết lâu đời. Những nền văn minh này bao gồm Lưỡng Hà, Ai Cập, Hy Lạp và châu Mỹ. Phương tiện của một tác phẩm nghệ thuật từ thời kỳ này khác nhau tùy thuộc vào nền văn minh đã tạo ra nó, nhưng hầu hết các tác phẩm nghệ thuật đều phục vụ các mục đích tương tự kể chuyện, trang trí các đồ vật hữu dụng như bát/ vũ khí, hiển thị hình ảnh tôn giáo và biểu tượng, thể hiện địa vị xã hội. Nhiều tác phẩm mô tả những câu chuyện về những người cai trị, các vị thần và các nữ thần. Một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất từ thời Lưỡng Hà cổ đại là Bộ luật Hammurabi. Được tạo ra vào khoảng năm 1792 trước Công nguyên, tác phẩm mang một bộ luật của người Babylon được khắc trên đá, được trang trí bởi hình ảnh của Vua Hammurabi- vị vua thứ sáu của Babylo và vị thần Lưỡng Hà, Shabash. Bộ luật Hammurabi, sáng tác 1792 TCN Nghệ thuật Trung cổ 500–1400 Thời kỳ Trung cổ, thường được gọi là “Thời kỳ đen tối”, đánh dấu một thời kỳ suy thoái kinh tế và văn hóa sau sự sụp đổ của Đế chế La Mã vào năm 476 sau Công nguyên. Phần lớn các tác phẩm nghệ thuật được sản xuất trong những năm đầu của thời kỳ này phản ánh bóng tối đó, đặc trưng bởi hình ảnh kỳ cục và khung cảnh tàn bạo. Nghệ thuật được sản xuất trong thời gian này tập trung xung quanh Nhà thờ. Khi thiên niên kỷ đầu tiên trôi qua, các nhà thờ được trang trí cầu kỳ và công phu hơn đã xuất hiện; cửa sổ và bóng được tô điểm bằng các chủ đề và cảnh trong Kinh thánh từ thần thoại cổ điển. Thời kỳ này cũng là nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện của các bản thảo được chiếu sáng và phong cách kiến trúc Gothic. Các ví dụ rõ ràng về nghệ thuật có ảnh hưởng từ thời kỳ này bao gồm hầm mộ ở Rome, Hagia Sophia ở Istanbul, Tin mừng Lindisfarne, một trong những ví dụ nổi tiếng nhất về bản thảo được chiếu sáng, và Notre Dame, một nhà thờ lớn ở Paris và là ví dụ nổi bật của kiến trúc Gothic. "Thánh giá" của Cimabue, sáng tác năm 1288 Nghệ thuật Phục hưng 1400–1600 Phong cách hội họa, điêu khắc và nghệ thuật trang trí này được đặc trưng bởi sự tập trung vào thiên nhiên và chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng về con người là độc lập và tự chủ. Mặc dù những lý tưởng này xuất hiện vào cuối thời Trung cổ, nhưng chúng đã phát triển mạnh mẽ trong thế kỷ 15 và 16, song song với những thay đổi xã hội và kinh tế như thế tục hóa. Thời kỳ Phục hưng đạt đến đỉnh cao ở Florence, Ý, một phần lớn là nhờ Medici, một gia đình thương gia giàu có, người kiên quyết ủng hộ nghệ thuật và chủ nghĩa nhân văn, một loạt các niềm tin và triết lý đặt trọng tâm vào thế giới con người. Nhà thiết kế người Ý Filippo Brunelleschi và nhà điêu khắc Donatello là những nhà sáng tạo quan trọng trong thời kỳ này. Thời kỳ Phục hưng Cao, kéo dài từ năm 1490 đến năm 1527, đã sản sinh ra những nghệ sĩ có ảnh hưởng như Leonardo da Vinci, Michelangelo và Raphael, mỗi người đều mang lại sức mạnh sáng tạo và những lý tưởng đi đầu về biểu hiện cảm xúc. Tác phẩm nghệ thuật trong suốt thời kỳ Phục hưng được đặc trưng bởi chủ nghĩa hiện thực, chú ý đến chi tiết và nghiên cứu chính xác về giải phẫu con người. Các nghệ sĩ đã sử dụng phối cảnh tuyến tính và tạo ra chiều sâu thông qua ánh sáng và bóng đổ cường độ cao. Nghệ thuật bắt đầu thay đổi về mặt phong cách ngay sau thời kỳ Phục hưng cao, khi những xung đột giữa đức tin Cơ đốc và chủ nghĩa nhân văn nhường chỗ cho Chủ nghĩa đàn ông. Trường học Athens của Raphael, sáng tác năm 1511 Mannerism 1527–1580 Các nghệ sĩ theo trường phái Mannerist xuất hiện từ những lý tưởng của Michelangelo, Raphael và các nghệ sĩ Hậu Phục hưng khác, nhưng sự tập trung vào phong cách và kỹ thuật của họ vượt trội hơn ý nghĩa của chủ đề này. Thông thường, các nhân vật có dáng người duyên dáng, chân tay thon dài, đầu nhỏ, các nét cách điệu và các chi tiết phóng đại. Điều này mang lại những sáng tác phức tạp hơn, cách điệu hơn thay vì dựa trên những lý tưởng cổ điển về bố cục hài hòa và phối cảnh tuyến tính được sử dụng bởi những người tiền nhiệm thời Phục hưng của họ. Một số nghệ sĩ Mannerist nổi tiếng nhất bao gồm Giorgio Vasari, Francesco Salviati, Domenico Beccafumi, và Bronzino, người được nhiều người coi là họa sĩ Mannerist quan trọng nhất ở Florence trong thời gian của ông. "Venus, Cupid, tinh nghịch và thời gian" của hoạ sĩ Bronzino, sáng tác năm 1540 Baroque 1600–1750 Thời kỳ Baroque theo sau Chủ nghĩa Manne đã tạo ra nghệ thuật thị giác và kiến trúc trang trí công phu, vượt trội. Nó được đặc trưng bởi sự hùng vĩ và phong phú, được nhấn mạnh bởi sự quan tâm đến việc mở rộng trí tuệ con người và khám phá toàn cầu. Các nghệ sĩ Baroque rất phức tạp về mặt phong cách. Các bức tranh Baroque được đặc trưng bởi kịch tính, như được thấy trong các tác phẩm mang tính biểu tượng của họa sĩ Ý Caravaggio và họa sĩ Hà Lan Rembrandt. Các họa sĩ đã sử dụng sự tương phản mạnh mẽ giữa sáng và tối và có những tác phẩm tràn đầy năng lượng được kết hợp bởi các bảng màu phong phú. Caravaggio, Lời kêu gọi của thánh Matthew, 1600 Rococo 1699–1780 Rococo có nguồn gốc ở Paris, bao gồm nghệ thuật trang trí, hội họa, kiến trúc và điêu khắc. Thẩm mỹ mang đến một phong cách nghệ thuật trang trí nhẹ nhàng hơn so với sự hoa mỹ của Baroque. Rococo được đặc trưng bởi sự nhẹ nhàng và thanh lịch, tập trung vào việc sử dụng các hình thức tự nhiên, thiết kế không đối xứng và màu sắc tinh tế. Các họa sĩ như Antoine Watteau và Francois Boucher đã sử dụng các phương pháp xử lý nhẹ nhàng, bút vẽ phong phú và màu sắc tươi mới. Phong cách Rococo cũng dễ dàng chuyển sang đồ nội thất bằng bạc, sứ và Pháp. Nhiều chiếc ghế và áo giáp có hình dạng uốn lượn, thiết kế hoa văn và cách sử dụng mạ vàng một cách biểu cảm. Antoine Watteau, Chuyến tàu đến Cythera, 1718 Tân cổ điển 1750–1850 Như tên gọi của nó, thời kỳ Tân cổ điển dựa trên các yếu tố từ thời cổ đại cổ điển. Những tàn tích khảo cổ của các nền văn minh cổ đại ở Athens và Naples được phát hiện vào thời điểm đó đã khơi dậy niềm đam mê đối với mọi thứ trong quá khứ, và các nghệ sĩ nỗ lực tái tạo những tác phẩm nghệ thuật cổ đại tuyệt vời. Điều này dẫn đến mối quan tâm mới đối với những lý tưởng cổ điển về sự hài hòa, đơn giản và tỷ lệ. Các nghệ sĩ tân cổ điển đã bị ảnh hưởng bởi các yếu tố cổ điển; đặc biệt là tập trung vào chủ nghĩa duy tâm. Chắc chắn, họ cũng đưa vào các tác phẩm của mình những miêu tả hiện đại, phù hợp với lịch sử. Ví dụ, nhà điêu khắc người Ý Antonio Canova đã dựa trên các yếu tố cổ điển trong các tác phẩm điêu khắc bằng đá cẩm thạch của mình, nhưng tránh sự giả tạo lạnh lùng vốn được thể hiện trong nhiều sáng tạo ban đầu này. Jacques-Louis David, Napoléon Vượt qua dãy Alps, 1801 Chủ nghĩa lãng mạn 1780–1850 Chủ nghĩa lãng mạn là hiện thân của nhiều lĩnh vực, từ hội họa, âm nhạc đến văn học. Những lý tưởng hiện hữu trong mỗi loại hình nghệ thuật này từ chối trật tự, sự hài hòa và tính hợp lý, vốn đã được chấp nhận trong cả nghệ thuật cổ điển và chủ nghĩa tân cổ điển. Thay vào đó, các nghệ sĩ lãng mạn nhấn mạnh vào cá nhân và trí tưởng tượng. Một lý tưởng lãng mạn xác định khác là sự đánh giá cao đối với thiên nhiên, với nhiều người chuyển sang vẽ tranh bằng không khí, đưa các nghệ sĩ ra khỏi nội thất tối và cho phép họ vẽ bên ngoài. Các nghệ sĩ cũng tập trung vào niềm đam mê, cảm xúc và cảm giác hơn trí tuệ và lý trí. Các họa sĩ lãng mạn nổi tiếng bao gồm Henry Fuseli, người đã tạo ra những bức tranh kỳ lạ, rùng rợn khám phá những khoảng tối của tâm lý con người, và William Blake, người có những bài thơ và hình ảnh bí ẩn truyền tải những tầm nhìn thần bí và sự thất vọng của anh ấy trước những ràng buộc của xã hội. William Blake, Bóng ma của một con bọ chét, 1820 Chủ nghĩa hiện thực 1848–1900 Có thể cho rằng phong trào nghệ thuật hiện đại đầu tiên, Chủ nghĩa hiện thực, bắt đầu ở Pháp vào những năm 1840. Chủ nghĩa hiện thực là kết quả của nhiều sự kiện phong trào chống lãng mạn ở Đức, sự trỗi dậy của báo chí và sự ra đời của nhiếp ảnh. Mỗi bức ảnh đều khơi dậy niềm yêu thích mới trong việc nắm bắt chính xác cuộc sống hàng ngày. Sự chú ý đến độ chính xác này thể hiện rõ ràng trong tác phẩm nghệ thuật được tạo ra trong quá trình chuyển động, trong đó có các mô tả chi tiết, giống như cuộc sống của đối tượng. Một trong những nhà lãnh đạo có ảnh hưởng nhất của phong trào Hiện thực là Gustave Courbet, một nghệ sĩ người Pháp cam kết chỉ vẽ những gì anh ta có thể nhìn thấy. Jean-François Millet, The Gleaners, 1857 Tân nghệ thuật 1890–1910 Art Nouveau, có nghĩa là “Nghệ thuật mới”, đã cố gắng tạo ra một phong trào hoàn toàn đích thực không có bất kỳ sự bắt chước nào của các phong cách đi trước nó. Phong trào này ảnh hưởng nhiều đến nghệ thuật ứng dụng, đồ họa và minh họa. Nó tập trung vào thế giới tự nhiên, được đặc trưng bởi những đường dài, khúc khuỷu và những đường cong. Các nghệ sĩ theo trường phái Tân nghệ thuật có ảnh hưởng đã làm việc trên nhiều phương tiện truyền thông, bao gồm kiến trúc, thiết kế đồ họa và nội thất, chế tác đồ trang sức và hội họa. Nhà thiết kế đồ họa người Tiệp Khắc Alphonse Mucha nổi tiếng với những tấm áp phích sân khấu của nữ diễn viên người Pháp Sarah Bernhardt. Kiến trúc sư và nhà điêu khắc người Tây Ban Nha Antoni Gaudi đã vượt ra ngoài việc tập trung vào các đường nét để tạo ra những công trình uốn lượn, có màu sắc rực rỡ như của Vương cung thánh đường Sagrada Familia ở Barcelona. Alphonse Mucha, Công chúa Hyacinth, 1911 Trường phái ấn tượng 1865–1885 Các họa sĩ trường phái ấn tượng đã tìm cách ghi lại ấn tượng tức thì của một khoảnh khắc cụ thể. Điều này được đặc trưng bởi các nét vẽ ngắn, nhanh chóng và cảm giác giống như bản phác thảo chưa hoàn thành. Các nghệ sĩ trường phái ấn tượng đã sử dụng cuộc sống hiện đại làm chủ đề của họ, vẽ các tình huống như vũ trường và thuyền buồm thay vì các sự kiện lịch sử và thần thoại. Claude Monet, một nghệ sĩ người Pháp, người dẫn đầu ý tưởng thể hiện nhận thức của con người trước thiên nhiên, gần như đồng nghĩa với phong trào Trường phái ấn tượng. Các tác phẩm đáng chú ý của ông bao gồm The Water Lily Pond 1899, Woman with a Parasol 1875, và Impression, Sunrise 1872, từ đó tên của phong trào được bắt nguồn từ chính nó. Claude Monet, Ấn tượng, Mặt trời mọc, 1899 Chủ nghĩa hậu ấn tượng 1885–1910 Các họa sĩ theo trường phái Hậu ấn tượng làm việc độc lập chứ không phải là một nhóm, nhưng mỗi họa sĩ theo trường phái Hậu ấn tượng có ảnh hưởng đều có những lý tưởng tương tự. Họ tập trung vào những tầm nhìn chủ quan và những ý nghĩa mang tính biểu tượng, cá nhân hơn là những quan sát về thế giới bên ngoài. Điều này thường đạt được thông qua các hình thức trừu tượng. Các họa sĩ theo trường phái Hậu ấn tượng bao gồm Georges Seurat, được chú ý với kỹ thuật vẽ bằng điểm nhấn sử dụng các chấm nhỏ, riêng biệt để tạo thành một hình ảnh. Vincent van Gogh cũng được coi là một họa sĩ theo trường phái Hậu ấn tượng, tìm kiếm sự thể hiện cá nhân thông qua nghệ thuật của mình, thường là qua những nét vẽ thô kệch và tông màu tối. Georges Seurat, Một buổi chiều Chủ nhật trên Đảo La Grande Jatte, 1886 Fauvism 1900–1935 Được dẫn dắt bởi Henri Matisse, Fauvism được xây dựng dựa trên các ví dụ của Vincent van Gogh và George Seurat. Là phong trào tiên phong đầu tiên của thế kỷ 20, phong cách này được đặc trưng bởi việc sử dụng biểu cảm của màu sắc, đường kẻ và nét vẽ mãnh liệt, cảm giác táo bạo về thiết kế bề mặt và bố cục phẳng. Như đã thấy trong nhiều tác phẩm của chính Matisse, sự tách biệt của màu sắc khỏi mục đích mô tả, đại diện của nó là một trong những yếu tố cốt lõi hình thành nên phong trào này. Chủ nghĩa Fauvism là tiền thân quan trọng của Chủ nghĩa Lập thể và Chủ nghĩa Biểu hiện. Henri Matisse, Người phụ nữ đội mũ, 1905 Chủ nghĩa biểu hiện 1905–1920 Chủ nghĩa biểu hiện nổi lên như một phản ứng đối với các quan điểm thế giới ngày càng mâu thuẫn và sự mất mát của tâm linh. Nghệ thuật biểu hiện tìm cách vẽ từ bên trong nghệ sĩ, sử dụng sự biến dạng của hình thức và màu sắc mạnh để thể hiện những lo lắng và cảm xúc thô sơ. Các họa sĩ theo trường phái biểu hiện, trong hành trình tìm kiếm tính xác thực, đã tìm kiếm cảm hứng ngoài nghệ thuật phương Tây và thường xuyên lui tới các bảo tàng dân tộc học để thăm lại các truyền thống dân gian bản địa và nghệ thuật bộ lạc. Nguồn gốc của Chủ nghĩa Biểu hiện có thể được bắt nguồn từ Vincent van Gogh, Edvard Munch và James Ensor. Các nhóm nổi bật bao gồm Die Brücke The Bridge và Der Blaue Reiter The Blue Rider được thành lập để các nghệ sĩ có thể xuất bản các tác phẩm và thể hiện lý tưởng của họ cùng nhau. Edvard Munch, Vũ điệu của cuộc sống, 1900 Chủ nghĩa lập thể 1907–1914 Chủ nghĩa lập thể được thành lập bởi Pablo Picasso và Georges Braque, những người bác bỏ khái niệm rằng nghệ thuật nên sao chép tự nhiên. Họ rời xa các kỹ thuật và quan điểm truyền thống; thay vào đó, họ tạo ra các đối tượng phân mảnh hoàn toàn thông qua sự trừu tượng hóa. Nhiều tác phẩm của họa sĩ Lập thể được đánh dấu bằng các bề mặt phẳng, hai chiều, các dạng hình học hoặc “hình khối” của các đối tượng và nhiều điểm thuận lợi. Thông thường, đối tượng của họ thậm chí còn không thể nhận biết được. Georges Braque, Violin và Palette, 1909 Chủ nghĩa siêu thực 1916–1950 Chủ nghĩa siêu thực xuất hiện từ phong trào nghệ thuật Dada vào năm 1916, trưng bày các tác phẩm nghệ thuật bất chấp lý trí. Những người theo chủ nghĩa siêu thực đã tố cáo tư duy duy lý. Họ đổ lỗi cho quá trình suy nghĩ này về các sự kiện như Thế chiến thứ nhất và tin rằng nó có thể kìm nén những suy nghĩ giàu trí tưởng tượng. Những người theo chủ nghĩa siêu thực chịu ảnh hưởng của Karl Marx và các lý thuyết được phát triển bởi Sigmund Freud, người đã khám phá ra phân tâm học và sức mạnh của trí tưởng tượng. Các nghệ sĩ theo trường phái Siêu thực có ảnh hưởng như Salvador Dalí đã đánh vào tâm trí vô thức để miêu tả những điều thú vị trên đường phố và trong cuộc sống hàng ngày. Các bức tranh của Dalí đặc biệt ghép những giấc mơ sống động và kỳ lạ với độ chính xác lịch sử. René Magritte, Con người, 1964 Chủ nghĩa biểu hiện trừu tượng những năm 1940 - 1950 Được định hình bởi di sản của Chủ nghĩa Siêu thực, Chủ nghĩa Biểu hiện Trừu tượng xuất hiện ở New York sau Thế chiến thứ hai. Nó thường được gọi là Trường học New York hoặc bức tranh hành động. Những họa sĩ và nhà điêu khắc trừu tượng này đã thoát khỏi những gì được coi là thông thường, và thay vào đó sử dụng tính ngẫu hứng và ngẫu hứng để tạo ra các tác phẩm nghệ thuật trừu tượng. Điều này bao gồm các tác phẩm có kích thước khổng lồ mà kích thước của nó không còn có thể đáp ứng được bằng giá vẽ. Thay vào đó, các tấm bạt sẽ được đặt trực tiếp trên sàn nhà. Các họa sĩ theo trường phái Biểu hiện Trừu tượng nổi tiếng bao gồm Jackson Pollock, được biết đến với phong cách vẽ nhỏ giọt độc đáo và Mark Rothko, người có các bức tranh sử dụng các khối màu lớn để truyền tải cảm giác tâm linh. Jackson Pollock, Nhịp điệu mùa thu Số 30, 1950 Op Art 1950s – 1960 Nổi lên nhờ những tiến bộ trong khoa học và công nghệ cũng như mối quan tâm đến hiệu ứng quang học và ảo ảnh, phong trào Op art viết tắt của nghệ thuật “quang học” đã ra mắt cùng với Le Mouvement, một cuộc triển lãm nhóm tại Galerie Denise Rene vào năm 1955. Các nghệ sĩ tích cực trong phong cách này đã sử dụng hình dạng, màu sắc và hoa văn để tạo ra hình ảnh có vẻ như đang chuyển động hoặc bị mờ, thường được tạo bằng màu đen và trắng để có độ tương phản tối đa. Những mẫu trừu tượng này nhằm mục đích gây nhầm lẫn và kích thích mắt. Nghệ sĩ người Anh Bridget Riley là một trong những người thực hành Op Art nổi bật nhất. Tác phẩm nghệ thuật năm 1964 của cô Blaze có các đường thẳng ngoằn ngoèo màu đen và trắng tạo ra ảo giác về một ngôi nhà tròn. Bridget Riley, Blaze, 1964 Nghệ thuật đại chúng 1950-1960 Nghệ thuật đại chúng là một trong những bước phát triển nghệ thuật dễ nhận biết nhất của thế kỷ 20. Phong trào này đã chuyển đổi khỏi các phương pháp được sử dụng trong Chủ nghĩa Biểu hiện Trừu tượng, và thay vào đó, sử dụng các đồ vật bình thường, hàng ngày để tạo ra các phẩm nghệ thuật sáng tạo thách thức chủ nghĩa tiêu dùng và phương tiện truyền thông đại chúng. Việc giới thiệu hình ảnh có thể nhận dạng này là một sự thay đổi từ hướng đi của chủ nghĩa hiện đại. Các nghệ sĩ nhạc pop như Andy Warhol và Roy Lichtenstein đã tìm cách thiết lập ý tưởng rằng nghệ thuật có thể vẽ từ bất kỳ nguồn nào và không có hệ thống phân cấp văn hóa nào có thể phá vỡ điều đó. Có lẽ tác phẩm nghệ thuật văn hóa đại chúng nổi tiếng nhất là sản xuất Warhol’s Campbell’s Soup Cans. Andy Warhol, Campbell's Soup Cans, 1962 Arte Povera những năm 1960 Dịch theo nghĩa đen là “nghệ thuật kém”, Arte Povera đã thách thức các hệ thống đương đại, theo chủ nghĩa hiện đại bằng cách đưa các vật liệu thông thường vào các tác phẩm sáng tạo. Các nghệ sĩ đã sử dụng đất, đá, giấy, dây thừng và các yếu tố khác bằng đất để gợi lên cảm giác tiền công nghiệp. Do đó, nhiều tác phẩm đáng chú ý trong phong trào này là tác phẩm điêu khắc. Nghệ sĩ Ý Mario Merz, kết hợp với các nghệ sĩ Ý khác như Giovanni Anselmo và Alighiero Boetti, đã tạo ra các tác phẩm chống tinh hoa bằng cách vẽ dựa trên các chất liệu từ cuộc sống hàng ngày. Giáp’s Igloo năm 1968 của ông, một trong những cái sẽ sớm trở thành chuỗi lều tuyết đặc trưng của ông, tập trung vào công việc của ông với những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống chỗ ở, hơi ấm và thức ăn. Mario Merz, Giap’s Igloo, 1968 Chủ nghĩa tối giản những năm 1960 - 1970 Phong trào Minimalist nổi lên ở New York khi một nhóm nghệ sĩ trẻ bắt đầu nghi ngờ về các tác phẩm biểu cảm thái quá của các nghệ sĩ theo trường phái Biểu hiện Trừu tượng. Nghệ thuật tối giản thay vào đó tập trung vào tính ẩn danh, kêu gọi sự chú ý đến tính trọng yếu của tác phẩm. Các nghệ sĩ kêu gọi người xem tập trung vào chính xác những gì đang ở trước mặt họ, thay vì vẽ ra sự tương đồng với thực tế bên ngoài và những suy nghĩ xúc động thông qua việc sử dụng các hình thức tinh khiết, trật tự, đơn giản và hài hòa. Nghệ sĩ người Mỹ Frank Stella là một trong những người sớm nhất áp dụng Chủ nghĩa tối giản, tạo ra những bức tranh không mang tính đại diện, như trong Những bức tranh đen của ông được hoàn thành từ năm 1958 đến năm 1960. Mỗi bức tranh đều có họa tiết các sọc nằm nghiêng có chiều rộng đồng đều được in bằng mực đen kim loại. Frank Stella, Black Series I, 1967 Nghệ thuật khái niệm những năm 1960 - 1970 Nghệ thuật khái niệm hoàn toàn bác bỏ các phong trào nghệ thuật trước đó và các nghệ sĩ đánh giá cao ý tưởng hơn các thành phần thị giác, tạo ra nghệ thuật từ các buổi biểu diễn, con thiêu thân và các hình thức khác. Nghệ sĩ biểu diễn người Ba Lan Ewa Partum’s Active thơ bao gồm các chữ cái trong bảng chữ cái đơn lẻ của cô ấy rải rác trên nhiều phong cảnh khác nhau. Nghệ sĩ người Mỹ Joseph Kosuth đã khám phá khả năng sản xuất và vai trò của ngôn ngữ trong nghệ thuật, như đã thấy trong tác phẩm Một và Ba chiếc ghế năm 1965 của ông. Trong đó, ông đại diện cho một chiếc ghế theo ba cách khác nhau để thể hiện những ý nghĩa khác nhau của cùng một đồ vật. Bởi vì loại hình nghệ thuật này tập trung vào ý tưởng và khái niệm, không có phong cách hoặc hình thức riêng biệt. Joseph Kosuth, Một và Ba Ghế, 1965 Nghệ thuật đương đại 1970 – nay Những năm 1970 đánh dấu sự khởi đầu của nghệ thuật đương đại, kéo dài cho đến ngày nay. Thời kỳ này bị chi phối bởi nhiều trường phái khác nhau và các phong trào nhỏ hơn đã xuất hiện. Chủ nghĩa hậu hiện đại Để chống lại chủ nghĩa hiện đại, các nghệ sĩ đã tạo ra các tác phẩm phản ánh sự hoài nghi, mỉa mai và phê bình triết học. Nghệ thuật nữ quyền Phong trào này nảy sinh trong một nỗ lực nhằm biến đổi những định kiến và phá vỡ khuôn mẫu của một lịch sử nghệ thuật do nam giới thống trị. Chủ nghĩa Biểu hiện Neo Các nghệ sĩ đã tìm cách làm sống lại các khía cạnh ban đầu của Chủ nghĩa Biểu hiện và tạo ra các tác phẩm lớn, có tính biểu cảm cao. Nghệ thuật đường phố Các nghệ sĩ như Keith Haring, Jean-Michel Basquiat, Barry McGee, Banksy và nhiều nghệ sĩ khác đã tạo ra nghệ thuật giống như graffiti trên các bề mặt ở những nơi công cộng như vỉa hè, tòa nhà và cầu vượt. Thế hệ Hình ảnh Các nghệ sĩ Cindy Sherman, Louise Lawler, Gary Simmons và những người khác bị ảnh hưởng bởi nghệ thuật Khái niệm và Đại chúng đã thử nghiệm với hình ảnh dễ nhận biết để khám phá những hình ảnh định hình nhận thức của chúng ta về thế giới. Nghệ thuật chiếm đoạt Phong trào này tập trung vào việc sử dụng các hình ảnh trong nghệ thuật với ít sự biến đổi so với hình thức ban đầu của chúng. Nghệ sĩ trẻ người Anh YBA Nhóm nghệ sĩ London này nổi tiếng với việc sẵn sàng gây sốc cho khán giả thông qua hình ảnh của họ và sẵn sàng vượt qua giới hạn của sự chỉnh tề. Họ cũng được biết đến với tinh thần kinh doanh, nhiệt huyết. Nghệ thuật kỹ thuật số Sự ra đời của máy ảnh đã giúp ích cho việc thực hành nghệ thuật này, cho phép các nghệ sĩ sử dụng nghệ thuật và công nghệ truyền để tạo ra với các phương tiện như máy tính, phần mềm âm thanh và hình ảnh, âm thanh và pixel. Jeff Koons, Michael Jackson và Bubbles, 1988 Các phong trào nghệ thuật trong suốt lịch sử của nghệ thuật phương Tây đã cung cấp một loạt các phong cách, kỹ thuật và phương tiện truyền thông đa dạng và có ảnh hưởng trên toàn cầu. Mỗi phong trào làm sáng tỏ các tác phẩm hội họa điêu khắc, kiến trúc đặc biệt và các tác phẩm tiêu biểu khác. Hiểu được dòng thời gian của lịch sử nghệ thuật và từng thời kỳ đã ảnh hưởng như thế nào đến các phong trào sau này là điều tối quan trọng để xây dựng một bộ sưu tập gắn kết, chu đáo. Nguồn Biên dịch Biên tập Trang Hà
sử của chụp ảnh khoả thân nghệ thuật. 1. Khoả thân với một thông điệp. 2. Sự khoả thân gợi tình 3. Khoả thân mang tính khoa học 4. Nhiếp ảnh làm thoã mãn nghệ thuật. 5. Nhiếp ảnh tìm thấy hướng đi của nó. 6. Khoả thân và chủ nghĩa kinh điển 7. Kiểu tài liệu 8. Chụp ảnh thời trang 9. Khoả thân nam 10. Khoả thân nam nữ bình đẳng 11. Phát hiện lại sự khiêu dâm 12. Ảnh khoả thân thương mại Phần 2 2. Định nghĩa các phong cách và sự tiếp cận 1. Cơ hội và lựa chọn 2. Các chủ đề khác nhau 3. Theo đuổi một khái niệm 4. Làm việc chỉ với màu trắng và đen 5. Làm việc với màu sắc 6. Khai thác cơ hội 7. Vượt qua giới hạn 8. Lựa chọn và sử dụng một sự sắp xếp 9. Sử dụng các khối trụ 10. Làm việc với các người mẫu 11. Việc chọn người mẫu 12. Hướng dẫn người mẫu 13. Truyền tải tâm trạng 3. Khai thác phương pháp kĩ thuật Giới thiệu Ánh sáng Ánh sáng ban ngày ở trong nhà Sự sáng tạo với ánh sáng trong nhà Ánh sáng ở xưởng phim Hiệu quả của ánh sáng nhân tạo Ánh sáng bên ngoài Tạc lại ánh sáng và hình bóng. Điều chỉnh các hình bóng Cùng đùa giỡn với các bóng. Phòng trưng báy ánh sáng Các tư thế chụp ảnh Từ đầu tới các ngón chân. Điều chỉnh các tư thế. Tư thế ánh sáng Phòng trưng bày các tư thế chụp ảnh Sự sắc nét và không rõ nét Tiêu điểm và chiều sâu. Tạc lại sự di chuyển một cách mờ nhạt Sự di chuyển một cách lạnh lùng. Di chuyển máy ảnh. Sự sắc nét và phòng trưng bày không rõ nét. Sự cấu tạo và tranh vẽ theo luật xa gần. Những quy tắc cơ bản của thành phần cấu tạo Vị trí của người mẫu. Khai thác hình ảnh theo luật gần xa. Cận cảnh tương phản Hiệu quả của sự méo mó. Thành phần cấu tạo và phòng trưng bày tranh vẽ theo luật gần xa. Các địa điểm vị trí Đánh dấu vị trí tốt nhất. Các cấu thang và các cánh cửa. Sự liên kết với một vị trí. Khoả thân và tự nhiên Phòng trưng bày các vị trí 4. Việc sản xuất sau đó Giới thiệu Crop hình và làm khung ảnh Điều chỉnh mức độ ánh sáng Thay đổi thành màu trắng và màu đen. Sự điều chỉnh màu. Thêm hậu cảnh. Sự chấm sửa sáng tạo Ứng dụng cái lọc ánh sáng Bảo tồn hình ảnh của bạn 5. Phòng trưng bày của thợ chụp ảnh Giới thiệu Lyn Balzer & Toney Perkins Andreas Bitesnich Syivie Blum Almond Chu Giorgio Gruizza Allan Jenkins Ocean Morisset Gavin O’neill Gabriele Rigon Ragne Sigmond Các câu hỏi được hỏi một cách thường xuyên Mục lục Những công nhận. - * Giới thiệu Với tôi, một hình ảnh thành công là một bức ảnh mà nó có sự tác động ngay lập tức vào mắt người xem, là chiếm lấy sự chú ý của họ, và làm cho họ mơ ước, mỉm cười và suy nghĩ, hay đơn giản chỉ là ngắm nó. Tôi có xu hướng là nghĩ rằng kĩ thuật, mặc dù quan trọng, nhưng chỉ đóng vai trò khiêm tốn. Nó chỉ là phần trợ giúp của hình ảnh. Kĩ thuật chụp ảnh giống như một ngôn ngữ. Ngôn ngữ của bạn được chắt lọc bao nhiêu, thì bạn lại có thể biểu hiện được sự tinh tế của chính bạn bấy nhiêu, nhưng nếu bạn không có chuyện gì để nói, không có cảm giác gì phải vượt qua, thì những lời của bạn sẽ vẫn y nguyên như vậy. Vì thế tiêu điểm của tôi trong cuốn sách này là làm cho bạn có ý thức về những dụng ý nghệ thuật trong viêc lựa chọn phương pháp kỹ thuật của bạn hơn là thảo luận về các vấn đề chuyên môn. Cũng có rất nhiều đầu mối để cải thiện bức ảnh của bạn. Nhưng đó là lời chỉ dẫn chính trong việc tập cho mắt bạn nhìn vào sự khoả thân bằng sự hiểu biết về nghề chụp ảnh. Đặt vị trí người mẫu của bạn phía sau ánh sáng để tạc được hình ảnh cơ thể cô ấy với ánh sáng và hình bóng, ví dụ như, bạn không phải làm gì với trang thiết bị của bạn nhưng tất cả mọi thứ phải làm bằng sự hiểu biết và có khả năng sử dụng được ánh sáng, nơi mà bạn để người mẫu của bạn trong khung tương phản sự hiểu biết của bạn về thành phần cấu tạo, hướng dẫn người mẫu của bạn hoà nhập với không khí mà bạn muốn sáng tạo, đó là phụ thuộc vào con mắt và các kĩ năng giao tiếp của bạn, và vv…. Và bạn có thể làm việc dựa trên tất cả các thành phần này ngay cả khi với những loại máy camera cơ bản nhất. Một khi mà bạn đọc về lịch sử của chụp ảnh khoả thân, có rất nhiều cách để làm cho bạn mở mang thêm, và làm cách nào để mang những ánh nhìn đặc biệt và cảm giác này vào hình ảnh, và khi bạn xem xét những phương pháp kĩ thuật sản xuất sau này, bạn có thể sẽ áp dụng và nhìn váo phòng tranh của những thợ chụp ảnh khác, để tiếp cận vào khía cạnh chụp ảnh này, đó là chương cuối cùng mà bạn chưa viết được, tôi chỉ có thể biếu bạn một cuốn sách về các thành phần đầy đủ của chụp ảnh, và cách để giúp bạn khám phá nhiều hơn. Học cách lựa chọn chúng một cách cẩn thận, và tìm ra sự kết hợp hoàn hảo cho các hình ảnh của bạn. Thưởng thức chúng 1. Lịch sử của chụp ảnh khoả thân nghệ thuật. Những bản vẽ trong các hang động thời tiền sử, những bức tượng từ thời kỳ Hy Lạp và thành Rome cổ xưa, và những bức tượng điêu khắc khiêu dâm từ Ấn độ và Châu phi, những hình ảnh phụ nữ khoả thân và những vật dụng cổ xưa trên thế giới là những chứng nhận về sự quyến rũ đầy mê hoặc của cơ thể khoả thân. Sự phát minh của nghệ thuật chụp ảnh thế kỷ 19 đã tạo ra việc miêu tả chân dung mới về con người, và trong khi đó những người bước vào nghề này sớm đã vẽ nên nghệ thuật sơn truyền thống của người Châu Âu về các chủ đề của họ về ánh sáng, thành phần cấu tạo, ánh sáng, và sự khác nhau. 1, Khỏa thân với một thông điệp Nói đến kỹ thuật, trong khi những bức ảnh đầu tiên rất khó để làm, họ chuẩn bị bằng cách là theo kinh nghiệm dựa vào mắt nhìn mà bất cứ ai cũng có thể làm được. Khi nghề chụp ảnh đã trở nên phổ biến, thì có quá nhiều hình ảnh khoả thân cả nam và nữ, đang giới thiệu về hoạt động tình dục, vào một môi trường mới, mặc dù thường ở trong cái lốt tính thẫm mĩ. Những hình ảnh khoả thân này, được chụp ở ánh sáng ban ngày, dường như là đã gây hứng thú thực sự hơn khi so sánh những hình ảnh khoả thân này ở trong tranh. Khi đó người xem biết rằng nghệ thuật đã được miêu tả một cách khá tỉ mĩ trong trong ánh sáng ban ngày của cơ thể người mẫu ở cái cách mà cô ấy hay anh ấy chọn trong việc tiếp cận giữa hai hình thức nghệ thuật sớm bắt đầu tiến triển. Đặc biệt, trong mối hoà hợp giữa các nghệ sĩ và người mẫu trở thành cốt yếu. Nghề chụp ảnh cũng mang lại một sự lựa chọn mà chưa bao giờ trước đó có sẵn trong nghệ thuật thị giác, nếu để khắc hoạ một cảnh đẹp một cách nhanh chóng, khi nó biến mất, và trở nên nổi tiếng như là một bài phóng sự- hoặc là để tạo ra một thành phần cấu tạo mang tính nghệ thuật bằng cân nhắc đặt mỗi thành phần vào đúng nơi trước khi lá chắn sáng được mở. Tuy nhiên, một trong những hình ảnh khoả thân đầu tiên, mà được chụp bởi Hippolyte Bayard 1801-1887, lại chẳng có gì để làm với tính khiêu dâm hay bất cứ sự đánh giá kinh điển nào của hình dáng con người. Trong “Self- portrait Asa Drowned Man, Bayard đã miêu tả chân dung chính anh ta một cách trần truồng trừ một vài mảnh vải che trên người, ngồi ở tư thế sụp xuống hình như chết. Bayard đã sáng tạo ra kỹ thuật chụp ảnh riêng mang phong cách của anh ta cùng một thởi điểm với Louis Daguerre 1787-1851 Nhưng cũng chính Daguerre và “phong cách Daguerre” đó đã nhận được sự thừa nhận từ Chính quyền Pháp. Khi sự phản tác dụng chống lại sự không công bằng, anh ta cảm thấy đã rất tận tâm rồi. Bayard đã sáng tạo nên bức ảnh này. Đó không chỉ là một bức ảnh khoả thân sử dụng chính trị đầu tiên, mà nó còn là một bức ảnh đầu tiên chỉ ra cơ thể con người trong một quang cảnh sân khấu. Sự thật thì nó có thể là bức ảnh đầu tiên về con người khoả thân. Khi mà phương pháp kỹ thuật của Daguerre’s cần một thời gian trưng bày thật lâu và bức ảnh của ông ta về cơ thể nữ giới năm 1839 đã đạt được bằng chụp ảnh một tượng điêu khắc. 2, Sự khoả thân gợi tình Vào đầu những năm 1840, những thấu kính và hoá chất đã được cải tiến tạo nên thời gian chờ ít hơn có thể một phút, hướng tới nghệ thuật vẽ chân dung phổ biến. Một sự tiến bộ khác là máy ảnh với hiệu quả 3 chiều, minh hoạ hình ảnh với 3 kích thước bằng trình bày hình ảnh 2 kích cỡ khác nhau nhẹ nhàng bên cạnh cái kia. Chúng không chỉ sử dụng cho các bức chân dung mà còn cho thấy những hình ảnh khiêu dâm và bí mật thực sự Hippolyte Bayard Bức chân dung tự hoạ của chính anh ta như một người đàn ông chết đuối 1840 biểu hiện nỗi thất vọng của anh ta trong việc thiếu thừa nhận công việc của anh ấy Hai trong những lời đề nghị nhiều nhất của phương pháp kỹ thuật mới này là Moulin xấp xỉ 1800-1868 và Auguste Belloc 1850-1868. Cả hai nhà chụp ảnh người Pháp này dường như rất nổ lực ở mỗi thể loại khác nhau trong lĩnh vực ảnh khoả thân. Khoả thân học thuật, khoả thân tranh ảnh, bắt chước những tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng và những hình ảnh gợi tình, thậm chí là khiêu dâm. Những bức ảnh khoả thân mang tính học thuật của họ được sử dụng tham khảo cho các hoạ sĩ như Courbet và Delacroix, và cả hai người này đều là những người tiên phong trong chụp ảnh nghệ thuật đẹp. Sau sự phát minh về thuật chụp ảnh câu hỏi được đặt ra là cơ thể con người nên được mô tả như thế nào. Trong các bức tranh, thông thường thì truyền thống chỉ ra tượng khoả thân chỉ trong các hình thức của huyền thoại, tưởng tượng, tôn giáo và các khung cảnh truyện ngụ ngôn, mà cho mượn cái áo choàng tôn kính cho hành động nhìn vào cái gì đó mà thường có trong các nội dung tình ái. Bước ra khỏi những nội dung này và làm một cách thực sự, ảnh khoả thân nghệ thuật chắc chắn sẽ hướng tới ý nghĩa tình ái nhiều hơn. Rất nhiều thợ chụp ảnh cũng như những người ẩn danh đã thăm dò hoạt động tình dục của con người, và một số bức ảnh của họ vẫn còn gây sốc thậm chí đến ngày nay. Họ chỉ ra không chỉ vẻ đẹp của người mẫu mà còn về nhu cầu, mong muốn tình dục của họ nữa và thường dứt khoát các hoạt động- một chủ đề đó là sự tái xụất hiện trong quang cảnh nghệ thuật giữa thế kỷ 20. Vịêc sản xuất những bức ảnh khoả thân gợi tình và khiêu dâm nhanh chóng phát triễn trên khắp thế giới, thành một ngành kinh doanh phát đạt để mang lại sự ngon miệng cho mỗi bộ phận của cộng đồng, cho dù chính thức ủng hộ hay tồn tại bất hợp pháp, phụ thuộc vào những gì là chấp nhận được theo pháp chế địa phương. Auguste Belloc Phép chụp hình Dage màu bằng tay là một phần của lắp đặt hình nổi 3 chiều của 2, tiêu đề của tên sách là “ femme nue allonggee sur un canape” , được tạo ra vào giữa năm 1850. Những hình ảnh khoả thân như thế này thường được sử dụng và thậm chí được uỷ quyền bởi các thợ sơn, và chúng được để trong album. 3, Khoả thân mang tính khoa học Trong khi thể loại của ảnh gợi tình đang phát triển và các hoạ sĩ đang thảo luận về cách sử dụng con người trong xu huớng mới này, thì những thợ chụp ảnh khác tìm kiếm để chỉ ra các khả năng có thể khác của nhiếp ảnh bằng khoa học và kỹ thuật. Tương ứng, ở Mỹ và Pháp, Eadwead Muybridge 1830-1904 và Etienne-Jules Marey 1830-1904 đã trình bày các thí nghiệm với một khoảng thời gian rất ngắn- một loạt các bức ảnh về các vật thể đang chuyển động tại một khoảng thời gian lập đi lập lại- trong đó cơ thể khoả thân trở thành một vật thể hoàn hảo mang tính nghệ thuật cũng như khoa học. Sự di chuyển bắt được trong khoảng thời gian quá ngăn đó quá nhanh để mắt có thể nhìn được, nền đen cho phép sự so sánh của các vị trí khác nhau mà cơ thể giả vờ đang cử động. Một điều tra mang tính khoa học phổ biến khác của thế kỷ 19 là nhân loại học, các nhà khoa học rất háo hức xây dựng một bản thu âm chụp ảnh về con người mà là trung tâm nghiên cứu của họ. Khi du lịch trở nên dễ dàng hơn, họ rất tò mò về những miền đất bên ngoài đang phát triển. Những bức ảnh từ nước ngoài, thường từ các lục địa của người Châu Phi, Châu Á rất lôi cuốn người xem phương Tây về những hình ảnh của con người khoả thân một phần. Kiểu hình ảnh và sự lôi cuốn về con người và văn hoá xa xôi đã tồn tại trong các bức tranh vẽ và tượng điêu khắc lâu đời trước khi thuật chụp ảnh được phát minh ra. Tuy nhiên, xu hướng mới đã đưa những hình ảnh này một sự đảm bảo có tính xác thực mà có kết quả trong nghệ thuật nhiếp ảnh của mỗi dân tộc. Những bức ảnh con người gần gũi với tự nhiên, cùng với giá trị văn hoá và ý tưởng về tình dục khác nhau, đã trở nên rất phổ biến với người dân Phương Tây về tính khoa học, hệ tư tưởng, và tất nhiên, cũng là những lý do rất nghệ thuật và gợi tình từ những năm 1860 cho đến thế kỷ 20. Mặc dù một số thợ chụp ảnh có cách tiếp cận khoa học, rât nhiều bức ảnh cũng có thể được gọi là “những hình ảnh mang tính dân tộc”. Quan điểm của người nước ngoài, những ý tưởng lãng mạn, và khả năng tưởng tượng tiến sát gần đến phân biệt chủng tộc và dân tộc học, thường nói nhiều hơn về văn hoá của thợ chụp ảnh và sự tưởng tượng của họ hơn là về văn hoá của người nước ngoài và con người bản địa. Cách tiếp cận này có thể được tìm thấy trong tác phẩm của Rudolf hehnert 1878-1948 Và Ernest Landrock 1878-1966. Được sinh ra ở Bohemia rồi một phần của đế quốc Austro-Hungarian, Lehert đã gặp Landrock Eadwead Muybridge Nghiên cứu sự vận động của một vận động viên vào tháng Ba đã được tạo nên tại California năm 1900 là một trong những nghiên cứu vận động của Muybridge. Bị ảnh hưởng bởi tác phẩm của Etience-Jules Marey. Nó đã đạt được cách sử dụng một cách cẩn thận bằng thời gian của máy Camera đa năng. một người Đức, ở Tunisia năm 1904. Hai xưởng chụp ảnh cùng được thành lập tại Tunis, với Lehnert là người chụp ảnh còn Landrock làm giám đốc của xưởng. Sau đó họ cùng làm ăn ở Cairo, bán bưu thiệp và in ấn những phong cảnh sa mạc lãng mạn, những đoàn người Bedouin và các cô gái khỏa thân hoàn toàn hay một phần. Vào những năm đầu của thế kỷ 20, trong khi cơ thể khoả thân có thể được chỉ ra dưới dạng catologue nghệ thuật và khoa học, bức vẽ chân dung thay vì tình dục đơn thuần cũng là cấm kị. Ernest James Bellocq 1873-1949 đã chụp ảnh gái mại dâm tại đại hạt đèn đỏ của New Orleans vào đầu những năm 1900, nhưng dường như chưa bao giờ phải in từ âm kính 10 x 8 inch. Mặc dù các người mẫu tạo dáng một cách đầy tự hào trước máy Camera, khuôn mặt của họ thường bị xé toạc ra, có lẽ để bảo tồn danh tính của họ. Đó chỉ là vào những năm 1960 mà một số lời từ chối đã được phát hiện và xuất bản bởi nhiếp ảnh gia Lee Friedlander. 4, Nhiếp ảnh làm thoả mãn nghệ thuật Kể từ khi xuất hiện, thuật nhiếp ảnh đã có những hiệu quả tích cực cho các thợ sơn hoạ sĩ và nhà điêu khắc, những người mà có rất nhiều cuốn sách với hình ảnh khoả thân ở các tư thế và bố trí khác nhau luôn sẵn sàng. Giữa năm 1880, điều này dẫn tới sự vận động cho việc thừa nhận thuật nhiếp ảnh như là môn nghệ thuật, tên gọi là chủ nghĩa tranh ảnh. Mục tiêu của các nhà làm tranh ảnh là để thành lập việc in ấn ảnh nghệ thuật như là một bộ môn nghệ thuật xác thực. Vì thế họ sáng tạo ra các sản phẩm mà gần gũi như các bức tranh vẽ, về cả nội dung và hình thức. Những bức ảnh như vậy sẽ phải trải qua một bài thử nghiệm về sự chỉ trích ở mỗi góc độ nghệ thuật khác nhau hài lòng vế thành phần cấu tạo, màu sắc, chất lượng, âm thanh, ánh sáng, và phải có sự quyến rũ, và thu hút một số cảm xúc của cá nhân con người đối với nhà nhiếp ảnh. Những hình ảnh của những người mẫu khoả thân không phải là các bức chân dung, thay vào đó chúng làm lộ ra như kể chuyện và chủ nghĩa tượng trưng và nó biểu đạt cảm xúc cũng như mơ ước của nhà nhiếp ảnh, hơn là cố gắng để sản xuất. Rudolh Lehnert Fathma, de la tribu des Ouled Nail, máy quang báo từ khoảng năm 1904. Trong xưởng phim của anh ấy ở Tunis đã chụp rất nhiều những hình ảnh khoả thân khiêu gợi đẹp kì lạ như thế này. Robert Demachy “Tranh đấu” 1904 được in với quá trình của chất Gôm đicromat, mà cho phép sử dụng màu sắc phảng phất. Những nhà vẽ tranh như Demachy đã dùng một đặc ân là tập trung hình ảnh và kỹ thuật in ấn mà làm cho tác phẩm của họ giống như bức tranh. Các hình ảnh to hết cỡ, họ làm mềm ảnh in bằng sử dụng ống kính tập trung sự mềm mại và sửa soạn công phu cho quá trình in ấn. Robert Demachy 1859-1936 là đại diện nổi tiếng nhất của chủ nghĩa tranh ảnh tại Pháp, trong khi Edward Steichen 1879-1973, Frank Eugene 1865-1936, và Heinrich Huhn 1866-1936 là những người đề xuất được biết đến nhiều nhất tại Mỹ, Đức cũng như Australia. Có một cách tiếp cận giống nhau giữa họ đối với cơ thể phụ nữ, không chỉ trong kỹ thuật in ấn mà còn trong xu hướng vẽ chân dung của các người mẫu trong một không gian như giấc mơ. Ý định của họ là để trình bày sự khoả thân ở hình thức lý tưởng hoá để làm cho người xem phản ứng lại với ý nghĩa của hình ảnh hơn là kích thích ham muốn. 5, Nhiếp ảnh tìm thấy hướng đi của nó Xung quanh khoảng năm 1910, mục tiêu của các nhà vẽ tranh là copy cái nhìn và cảm giác của bức tranh và làm nên một chương mới của lịch sử nhiếp ảnh. Phản ứng lại những cách tiếp cận không thuộc về nhiếp ảnh, một số nhiếp ảnh gia đổi hướng tới những gì trong sáng, thẳng tắp Thực tế chính nó đã trở thành vật thể hơn là trở thành sự lý tưởng hoá, sự thăng hoa của nó. Được xem như là một môn nghệ thuật, nhiếp ảnh cũng không cần thiết phải giả, nhái lại sơn vẽ thêm nữa. Những người theo chủ nghĩa tân thời đã chụp ảnh vật thể của họ cho chính phẩm chất của mình cùng với các phương pháp kỹ thuật đặc trưng tới xu hướng thuật nhiếp ảnh. Cơ thể khoả thân được trình bày bay giờ như là quyền cá nhân của họ, được sử dụng ở một cách biểu tượng với sự tác động lẫn nhau của các đường nét và góc cạnh. Với những hoạ sĩ như là hoạ sĩ người Australia Rudolf Koppitz 1884-1936 và hoạ sĩ người Séc Frantisek Drtikol 1883-1961, ảnh khoả thân đã trở thành một dáng vẻ mà tạo nên thành phần cấu tạo mang tính hình học và tương phản, nó vẽ nên sự ảnh hưởng của họ từ xu hướng lập thể, mặc dù họ vẫn sử dụng kỹ thuật in mềm mại. Những nhà nhiếp ảnh khác cũng tìm kiếm chất lượng ảnh không chỉ trong thành phần cấu tạo mà còn trong kỹ thuật in. Trong những năm 1920, phong trào Siêu thực bằng nghệ thuật mắt nhìn và văn hoá được sinh ra như phản ứng chống lại phân biệt chủng tộc trong văn hoá và chính tri Châu âu, các thành viên của phong trào tin rằng, rút cục thì đã dẫn tới chiến tranh Thế giới thứ I. Bị ảnh hưởng bởi Freud, mục tiêu của Chủ nghĩa Siêu thực là để làm lu mờ đi những đường nét giữa ý thức và không có ý thức và bày tỏ hình ảnh khi nó được tiết lộ trong các giấc mơ. Họa sĩ người Pháp Andre Breton 1896-1966 và bạn của anh ta đã sớm phát hiện ra những khả năng của nghệ thuật vốn có trong nhiếp ảnh, đặc biệt là là trong nghệ thuật cắt gián ảnh. Trong công việc của họ, sự hiện hữu của cơ thể con người chụp lên một cách huyền bí và có cảm giác khiêu dâm. Bằng việc sử dụng những hiệu quả cơ bản mà xu hướng mới mang lại- liệu mắt của những con chim hay là độ dài ngắn hay là việc sử dụng của gương soi và kỹ thuật trong phòng tối ví như là sự làm hỏng vì phơi quá- cơ thể có thể sẽ được xem trong cái lốt khác thường. Nhiếp ảnh gia người Hungary Andre Kertesz 1894-1985 sử dụng những cái gương soi làm nền rất đẹp trong chuỗi ảnh “Méo mó” để làm biến dạng đi cơ thể phụ nữ. Tại Mỹ, Edward Weston 1886-1958 đã tạo ra những hình ảnh với các khúc đoạn của cơ thể, thường sử dụng theo hướng viễn cảnh, trong khi cùng một thời điểm đó như là Alfred Stieglitz 1864-1946 và Imogen Cunningham 1883-1976 đã kết hợp hình học và sự trừu tượng trong các cảnh khiêu dâm trong ảnh của họ Andre Kertesz Những người theo chủ nghĩa tân tiến tìm kiếm để mở rộng sự hạn chế của xu hướng ảnh nghệ thuật. “Distortion số 60 1993 là một trong những sêri mà Kertesz đã đặt sự méo mó của chiếc gương trong việc biến đổi người mẫu của anh ấy thành sự sáng tạo trừu tượng. Man Ray Emmanuel Radnitsky, 1890-1976 là người tiên phong ứng dụng kỹ thuật trong sản xuất những bức ảnh siêu thực bằng cách sử dụng các thao tác bằng tay trong phòng tối. Được sinh ra ở Philadelphia, ông bắt đầu sự nghiệp hoạ sĩ của mình là một thợ sơn trước khi chụp ảnh vào năm 1916. Năm 1921 ông chuyển tới Pari, nơi mà ông đã sống hầu hết khoãng thơi gian còn lại của mình. Ông nổi tiếng trong việc phát triển với người yêu của ông ấy và trợ lý Lee Miller quá trình phơi ảnh lâu quá. Ở điều này việc cấm đoán và in ấn được bộc lộ thoáng qua tới ánh sáng và là một kết quả của âm thanh được bảo tồn đặc biệt, thường tạo ra các hiệu quả trong phác thảo đường nét của cơ thể trong các nghiên cứu về thuật khoả thân của anh ấy. Sự nghiệp của Man Ray cũng xoay quanh việc chụp ảnh thời trang và quảng cáo. Những thử nghiệm đồ hoạ và các cuộc thăm dò khác với xu hướng chụp ảnh nghệ thuật và vẫn còn rất phổ biến trong những năm 1940 và 1950, và thường được giới thiệu các thành tố mới, ví dụ như, những cảnh đẹp tự nhiên trong tác phẩm của Nhiếp ảnh gia người Anh Bill Brandt 1904-1983, trong chuỗi chụp các bức ảnh khoả thân trên bờ biển East Sussex của mình, ông ấy đã sử dụng ống kính góc độ rộng chụp cận cảnh, tạo ra sự méo mó dị dạng của cơ thể, và in hình ảnh bằng màu đen trắng với độ tương phản cao. Những cơ thể trắng đáng chú ý này chụp ở miền quê nước Anh dường như là một phần của ảnh đẹp- khỏa thân quay về với tự nhiên- sự tinh tế tự nhiên của nền văn minh. Man Ray Man Ray thì nổi tiếng với các hình ảnh mà bị phơi quá lâu của mình, những bức ảnh được làm bằng cách phơi ra nhanh chóng với ánh sáng âm trước khi nó được lắp hó học. Natacha được chụp khoảng năm 1930, đã tồn tại trong một phiên bản xác thực cũng như trong phiên bản tiêu cực mà được chỉ ra ở đây. Bill Brandt Khoả thân, ở bãi biển East Sussex 1957 là một trong chuỗi các sêri hình ảnh mà trong đó Brandt để người mẫu của mình nằm trên bờ biển đá và tạo nên một hình mẫu giống như điêu khắc cùng với việc sử dụng ống kính góc độ rộng và chỗ đứng nhìn tốt. 6, Khoả thân và chủ nghĩa kinh điển Vẻ đẹp các bức tượng của Hy lạp và Thành Rome cổ xưa đã truyền cảm hứng cho các hoạ sĩ và nhiếp ảnh gia xuyên suốt lịch sử, và đến thế kỷ 20, sức ảnh hưởng cổ điển đã được sử dụng trong nghê thuật, chính trị, và thậm chí trong thơ tình. Đầu thế kỷ, phong trào khoả thân đã ca ngợi vẻ đẹp hình thức của con người với những hình ảnh của những huấn luyện viên thể dục trẻ trung khoẻ mạnh dưới ánh nắng và những cảnh đẹp nguyên sơ, trong khi đó năm 1927, Eli Souyoultzoglou-Seraidari 1899-1998 được biết đến là Nelly’s đã chụp những vũ công người Nga Nikolska và Mona Paiva đang khiêu vũ trần truồng giữa những cây cột của Oarthenon cứ như là họ đang hoá thân vào những kiếp người cổ xưa, những hình ảnh của các vũ công nữ khoả thân của Bà đã tạo nên một vụ rắc rối nhưng cũng không làm mất đi danh tiếng của bà ấy. Khi mà cơ thể con người khoả thân hoàn toàn là chủ đề, tình dục có thể vẫn được tìm thấy trong nhựng bức ảnh chụp riêng tư. Nhiếp ảnh gia người Đức Herbert List 1903-1975 đã chụp ảnh người đàn ông khoả thân đã dựng lên bối cảnh cổ xưa của người Hy Lạp trong kiểu chụp ảnh mà bị ảnh hưởng từ văn chương đương thời, đặc biệt là Jean Cocteau. Những hình ảnh đồng tính luỵến ái với góc độ rộng và độ tương phản cao của người thanh niên được đặt kề với những bức tượng cổ kính cho thấy quan điểm không bị ảnh hưởng bởi thời gian tạo nên mức độ quan trọng bằng nhau như một ngôi chùa và cơ thể. Những bức ảnh của anh ấy sẽ không bị bài mòn bởi thời gian cho tới sau khi ông ấy mất. Trong những năm 1930, chế độ chính trị đã sử dụng những hình ảnh của các vận động viên khoả thân để chỉ ra quyền uy tối cao của họ đối với dân chúng. Cơ thể con người thì rất hoàn hảo và khoẻ mạnh, tâm trí hoàn toàn phục vụ vì mục đích cao hơn là phục vụ đất nước. Các kinh nghiệm của các nghệ sĩ của Dadaists Surrealist được xem như là sự thoái hoá trong các quốc gia như Hít le- Đức và Stalin của Xô viết, và rất nhiều người như thế ở châu Âu và Mỹ. Người khoả thân được chụp bằng phong cách quay trở lại thời kỳ huy hoàng của thời cổ xưa mà ban tuyên truyền rất quan tâm, nó không chỉ gây chú ý là được làm bởi Leni Riefenstahl 1902-2003. Bà ấy đã chụp thế vận hội Olypic Berlin năm 1936 và bộ phim Plympia nổi tiếng của Bà là ca ngợi các vận động viên của Đức trong các bài thơ anh hùng, cuốn sách ảnh của bà ấy với tên gọi “ Schonheit im Olypischen Kampf, thì kém nổi tiếng hơn. Những hình ảnh người đàn ông khoả thân đẹp cùa bà được chụp dưới mặt trời mới hé mở, mang lại cho bà sự đồng ý của Hítle Leni Riefenstahl Lebendige Antike 1936, in màu bạc trong suốt của vận động viên thể thao thi 10 môn người Đức Erwin Huber được Riefenstahl đặt chụp ở tư thế như bức tượng sống cổ xưa, thể hiện được các ý tưởng của Hy Lạp cổ kính xưa. Phần còn lại trong sự nghiệp của Bà. Tuy nhiên, rút ra từ nội dung chính trị của họ, những hình ảnh của Riefenstahl cho tới ngày nay vẫn được ngưỡng mộ về phương pháp kỹ thuật và vẻ đẹp của con người- mặc dù Bà ấy chỉ chụp như thế đó, song nó thật hoàn hảo. Ít sự bất đồng trong các bức ảnh của bà về Nuba, một bộ lạc cổ xưa ở Sudan, mà vẻ đẹp, truyền thống, và lễ nghi của họ Bà đã thu âm được trong nhiều năm của những năm 1960, một lần nữa cùng với sự đặc biệt tập trung vào những người sở hữu cơ thể đẹp tuyệt vời 7, Kiểu tài liệu Sau nỗi kinh hoàng của Thế chiến thứ II, tính ham muốn và tính nhạy cảm được nhấn mạnh nhiều hơn trong các bức tranh khoả thân. Các nghệ sĩ ngày nay còn cho biết tên của các người mẫu của họ, một số người mẫu là vợ của họ. Ví dụ đặc trưng tiêu biểu nhất là Nhiếp ảnh gia người Mỹ Hary Callahan 1912-1999. Ông đã tạo nên rất nhiều nghiên cứu về vợ của mình, đặc biệt là từ năm 1947 tới cuối những năm 1950, việc sử dụng các phương pháp kỹ thuật đa dạng và đặt cả trong nhà và ngoài cảnh đẹp thiên nhiên. Ngày nay sêri ảnh này có một số được đánh giá là phần quan trọng nhất trong tác phẩm của Ông, với các bức ảnh mà nói lên sự mật thiết, sự tin tưởng và tình yêu giữa họ Nghệ sĩ người Mỹ Diane Arbus 1923-1971 cũng chụp hình ảnh khoả thân trong thiên nhiên trong loại tài liệu thực suốt những năm 1950 và 1960. Arbus nổi tiếng vì sự nhạy cảm của cô đối với cá nhân con người người mà sống ngoài rìa xã hội và cho sự quyến rũ mê hoặc của mình với bức tranh kỳ cục và cách ly xã hội, những người trong rạp xiếc. Harry Callahan “Eleanor” 1948, sơn màu bạc trong suốt. Callahan rất ấm áp và nhạy cảm với chân dung của vợ Eleanor trong nhiều năm, và đã tạo ra một trong những nhật ký bằng mắt nhạy cảm đầu tiên, biểu hiện trong nhà của bà, trên con đường thành phố và trong cảnh đẹp. Những người khổng lồ, những người tí hon, người chuyển giới tính, người có vấn đề về tinh thần là một aphần trong phòng trưng bày chân dung của bà tại Mỹ. Ngược lại, những bức ảnh của Bà ấy chụp những kiều dân khoả thân chỉ ra cuộc sống hằng ngày của các gia đình Mỹ, nhưng không bao gồm những người mà Bà vẽ chân dung không quần áo, và kết quả của xu hướng này, người xem không chú ý lắm đến sự khoả thân mà họ quan tâm nhiều hơn đến tư thế ảnh chụp và môi trường xung quanh, Arbus chụp cơ thể con người không hoàn thiện nhưng quan tâm đến hoàn cảnh của họ hơn là ý nghĩa tình dục. Mặc dù sự lạnh lẽo trong phong cách phim tư liệu, nhưng sự thấu cảm thực sự là điều đơn giản trong cách tiếp cận của Bà ấy đối với vật thể bên ngoài dòng chảy của xã hội trong cả sự mẫu mực và sự cảm động. 8, Chụp ảnh thời trang Cuối của những năm 1930, các nhiếp ảnh gia thời trang bắt đầu nhìn các người mẫu không chỉ đơn thuần là các con ngựa mặc quần áo mà treo quần áo của nhà thiết kế lên, mà còn là vật thể chủ đề trong quyền hạn của họ. Làm việc cho tờ Vogue và Harper’s Bazaar, Erwin Blumenfeld 1897-1969 đã thành công trong việc liên kết những người đi tiên phong cho bố cục của bức tranh và việc sử dụng ảnh hỏng vì phơi lâu quá với ảnh thời trang. Công việc của ông ấy mô tả thời trang trong một cách đồ hoạ với sự tương phản của quần áo và cơ thể của người mẫu cho hướng tập trung chính. Ông ấy rốt cuộc chỉ nhấn mạnh đến chính cơ thể của các người mẫu, cho Blumenfeld chụp ảnh một số hình ảnh khoả thân đầu tiên mà chưa bao giờ được thấy trên Vogue trước đó. Cách sử dụng nền của ông ấy rất phù hợp với trang phục và đã tạo ra một không gian tràn khắp hình ảnh. Ông đã phát minh ra vũ trụ của con người mà vẫn còn ảnh hưởng tới xu thế chụp ảnh thời trang ngày nay. Horst P. Paul Horst 1906-1999 là người đầu tiên đạt được tiếng tăm trong công chúng cho nghệ thuật nhiếp ảnh của mình “ the Mainbocher corset” đã xuất hiện trên tạp chí Vogue năm 1939. Mặc dù không phải là hình ảnh khoả thân, nhưng hình dáng đồng hồ cát được nhấn mạnh bởi sự phối hợp màu sắc sáng tối và dải ruy băng buộc quanh ngực cô ấy tạo nên sự khoả thân. Trên đầu tóc được quấn lại như hình cong, người mẫu chấp nhận cái nhìn chằm chằm của chúng ta, giống như tội đồng loã với nhìn trộm người khác. Horst đã chụp rất nhiều hình ảnh khoả thân trong tư thế này, bằng cách sử dụng một vài ánh sáng ở xưởng phim để tạo nên một phong cách hoà hợp giữa ánh sáng và hình bóng. Trong khái niệm thời trang mới này, cơ thể trở thành điểm nhấn quan trọng nhất, và trang phục chỉ là số 2, những hình ảnh của Horst và Blumenfeld minh hoạ mong ước về sự hồi phục của con người và những kích thước nghệ thuật của nó trong khi phục vụ nhu cầu cho chụp ảnh thời trang, các tạp chí ở Atlantic từ tờ báo Vogue và Harper’s Bazzaar cho tới Le Jardin des Modes, cũng khuyến khích loại hình nghệ thuật này, là những hình ảnh về mặc đồ lót, quần áo tắm và ảnh khoả thân. Nhưng không phải mỗi nhiếp ảnh gia thời trang làm những ảnh khoả thân đáp ứng nhu cầu của ảnh thời trang, trong những năm 1940-1950 Irving Penn 1917 đã chụp ảnh khoả thân mà trái lại các tiêu chuẩn thời trang Những hình người béo múp míp cong lại rồi lại trải dài ra. Horst Odalisque 1, được in bạch kim trên vải bạt 1943. Chỉ với một vài đồ dùng cho sân khấu được chọn lựa tốt và ánh sáng như kịch nghệ, Horst đã kiểm soát để gợi lên một khung cảnh quen thuộc xa hoa. Erwin Blumenfeld Cubistic Purple Nude 1949 được sáng tạo bằng cách chồng lên các hình ảnh khác nhau, mang lại những kinh nghiệm thuộc siêu thực vào làng ảnh thời trang. Arno Rafeal Minkkinen “Abbye de Montmajour, Arles, 1983” được sáng tạo trong bối cảnh mà Van Gogh đã sơn. Minkkinen đã nhận xét “đó là phong cảnh sâu lắng của con người mà tôi có thể nói niềm vui lớn ở đây là khi nó đang bước vào bầu trời cảnh đẹp của Van Gogh chỉ trong giây lát” Với cái bụng nhô lên và cái hông nhỏ. Những hình thức đầy vẻ khoái lạc tới các vị thần mà có khả năng sinh sản cổ xưa mà được tìm thấy trên khắp thế giới, những cơ thể phụ nữ đầy đặn mà Rubens sơn, hoặc là những kinh nghiệm không rõ ràng của những người ủng hộ cái mới trước chiến tranh hơn là hình ảnh mang tính thời trang của giữa thế kỷ 20. 9, Khỏa thân nam Cho tới cuối năm 1960, những hình ảnh của cơ thể con người chủ yếu là phụ nữ và được giới đàn ông sản xuất rộng rãi. Những hình ảnh khoả thân được chụp chủ yếu theo quy ước học thuật được thừa kế từ nghệ thuật cổ điển, đặc biệt là ở Châu Âu. Tuy nhiên, sự mất ổn định trong xã hội của những năm 1960 đã hình thành nên cách tiếp cận cơ bản với cơ thể. Trong thể loại chân dung tự hoạ, 3 nhiếp ảnh gia cùng thế hệ đã phá vỡ điều cấm kị, và mặc dù ở những cách khác nhau. Dieter Appelt Đức, 1935-, Jan Saudek Cộng hoà Séc, 1935-, và Arno Rafeal Minkkinen Phần lan, 1945 đã cùng cống hiến hầu hết các tác phẩm của mình không chỉ trong chân dung tự hoạ mà còn ở trong ảnh khoả thân tự hoạ Tác phẩm của Dieter Appelt minh hoạ cơ thể con người bằng một khối rắn chắc như địa chất, là sự hoà trộn của sân khấu, sơn, và điêu khắc, làm khuấy động lên cảm giác mất tính người tàn bạo thông qua nguyên liệu vải rám xù xì và cách cấu tạo viễn cảnh khác thuờng. Jan Saudek, mà sống ở cộng đồng Prague, đã dịch lại nỗi ám ảnh của anh ấy thông qua các bức ảnh, hầu hết trong số đó, anh ấy đã tạo ra nền móng cũ xưa, tương đối nhỏ. Vỏ sơn bị bóc ra từ các bức tường, một cửa sổ nhỏ, và sự cần thiết tuyệt đối cho tự do làm theo ý mình là rất hạn chế khi anh ấy đối mặt với. Saudek đã chụp những cảnh phụ nữ và cặp đôi gợi tình, mà trong đó anh ấy với vai trò là đàn ông. Anh ấy sơn màu các bức ảnh bằng tay, cho họ cái ngắm nhìn và không gian đặc trưng. Trong các hình ảnh của mình, từ nguyên mẫu đầu tiên cho tới nghệ thuật khiêu dâm của những năm 1990, đều có được sự công nhận toàn thế giới từ sau vụ đổ của Iron Curtain năm 1989. Cho tới những năm 1960, cơ thể đàn ông khoả thân được trình bày chỉ như một chiến binh, một người chơi thể thao, hay một người mẫu. Tuy nhiên, cơ thể trở thành một vật thể chính trong sự tiến bộ tương phản ở tác phẩm của Minkkinen, Skeletal, chủ yếu cao 61/2 2m, ông làm méo mó khung của mình, thi thoảng còn thể hiện trong chân dung cắt chiếu. Trong sê ri ảnh chân dung tự họa, những phần cơ thể của minh, đặt một cách tự nhiên và chụp cận cảnh, dường như mất chức năng truyền thống. Thật ngược đời, anh ấy đã hoàn toàn để lộ cơ thể của mình, phơi bày ra cái không hoàn hảo, nhưng lại che mất khuôn mặt, và anh ấy thường đặt mình trong phong cảnh đẹp hoàn hảo của Nordic ở quê hương Phần lan của anh. John Coplans 1920-2003, người Mỹ-Anglo cũng theo bước chân của Minkkinn vào những năm 1980 khi ông ấy chụp cơ thể khoả thân già nua không hoàn hảo của mình, minh hoạ cho khao khát được thể hiện và chụp ảnh một ai đó cứ như là đang nhìn vào gương soi, không mặc đồ, và đe doạ người xem một cách tàn nhẫn với quá trình già đi một cách thô bạo của con người. Trong sự tương phản với tác phẩm của các nhiếp ảnh gia như vậy, thì cũng có một sự quyến rũ thẩm mĩ của đàn ông mà người đại diện tiêu biểu nhất là Robert Mapplethorpe người Mỹ 1946-1998. Với sự điều khiển chuyên nghiêp ánh sáng cao nhất và rộng ở xưởng phim - hay là máy chụp ảnh được định dạng trung bình. Mapplethorpe đã tạo nên sự mượt mà và hoàn hảo một cách cường điệu trong hình tượng hoá cơ thể, và cũng bị ảnh hưởng bởi phong cách nghệ thuật của Horst và nhiếp ảnh gia thời trang George Hoynigen-Huene. Vẻ đẹp điêu khắc - sức mạnh gợi tình đó mà Goerge đã mang đến trong các cơ thể đàn ông khoã thân bằng màu đen trắng không thể sánh kịp. Cũng ở Mỹ, những nhiếp ảnh gia như Greg Gorman 1949-, Bruce Webe1946- và Herb Ritts 1952-2002 vẫn tiếp tục nghiên cứu vẻ đẹp và thú nhục dục trong cơ thể đàn ông. 10, Khoả thân nam nữa bình đẳng Các tạp chí như Playboy năm 1953 và Penthouse năm 1965, kể từ khi mới bắt đầu thành lập, thuật khỏa thân khêu gợi của phụ nữ đã bước vào đời sống mỗi ngày và trở thành đề tài rất thời trang trong bộ phận dân chúng ở Phương Tây và ở Mỹ. Loại hình ảnh khoả thân này có xu hướng là những người đàn ông, họ vừa là nhà sản xuất ảnh, vừa là nhân vật chính. Phong trào nam nữ bình quyền, được bắt đầu từ những năm 1960 và lớn mạnh, có ảnh hưởng rộng nhất trong những năm 1970, phản đối lại truyền thống khai thác đàn ông, và kể từ khi đó đông đảo các nghệ sĩ nữ đã sử dụng chụp ảnh và băng hình để giác ngộ nhận dạng giới tính của họ một cách độc lập khỏi ánh mắt nhìn chằm chằm của đàn ông. Giữa năm 1975 và 1981, Nghệ sĩ người Mỹ Francesca Woodman 1958-1981 đã làm một sê ri về chân dung tự hoạ biểu lộ về giới tính, ham muốn, và mối lo âu của cô ấy. Những bức ảnh của cô ấy thường là một cuộc đối thoại nội tâm với cái gương, lý tưởng hoá vể bản thân mình, vẻ đẹp của chính mình và sự thật rằng thì vẻ đẹp sẽ dần phai nhạt đi. Sự khoả thân trong tác phẩm của Woodman thì khiêu khích hơn. Nó phục vụ như hình ảnh của tâm hồn, một cuốn nhật ký cảm động tự truyện mà kết thúc là khi cô ấy tự tử ở độ tuổi 28. Sự quyết tâm về nam nữ bình quyền đòi sở hữu các hình ảnh của cơ thể phụ nữ là nhân tố căn bản cho các bức chân dung tự hoạ xem xét nội tâm như vậy, và Toto Frima 1953- tại Hà Lan cũng sản xuất được những ví dụ địển hình đẹp về loại tác phẩm này. 11, Phát hiện lại sự khiêu dâm Trong khi đó, các nhiếp ảnh gia như Ralph Gibson 1939- và David Hamiton 1933 ở Anh quốc và Lucien Clergue 1934 ở Pháp đã nghiên cứu tính đa dâm đầy chât thơ trong cơ thể phụ nữ. Clergue thường chụp các người mẫu của anh ấy bên cạnh các thành phần tự nhiên như Robert Mapplethorpe Thomas 1986, các bức ảnh của Mapplethorpe xếp loại từ hoạt động tình dục rõ ràng tới vẻ đẹp siêu phàm. Ông đã đạt được sự thừa nhận trong suốt những năm 1970 với các sáng tác tao nhã, thi thoảng gây sốc, đối với ảnh khoả thân nam. Những con sóng hay những tảng đá và sử dụng triệt để ánh sáng tốt của miền nam Châu âu. Với Gibson, sức mạnh gợi tình của ảnh khoả thân lấy nguồn gốc từ cái cách mà cơ thể mặc đồ hay là từ chi tiết của các cuộc vận động. Tranh vẽ theo luật xa gần với các khúc đoạn của anh ấy chứng minh được tình yêu với cả sự trừu tượng hoá và sự huyền bí. Từ đó chúng ta có thể nói rằng sự khác nhau giữa hình ảnh gợi tình thật và sách báo khiêu dâm chỉ là điều huyền bí. Hai chân được che kín đáo của phụ nữ có thể sẽ gây cảm xúc hơn là những cái chân của phụ nữ khoả thân. David Hamilton, cực kỳ nổi tiếng trong thập niên 1970 và đầu 1980, có ảnh hưởng từ thế hệ các nhiếp ảnh gia không chuyên với hình ảnh cứ như mơ của anh ấy về những cô gái vô tội trẻ trung trong quan điểm khám phá vẻ đẹp gợi tình của họ. Không trang điểm và chỉ sử dụng màu sắc nhẹ nhàng, ánh sáng dịu, và các phụ tùng, gợi lên cảm giác hầu hết mọi người đều có một quan điểm nào đó trong cuộc đời họ. Thành công hơn rất nhiều so với bất cứ ai trước mình, Hamiton hiểu được yêu cầu cho lời hứa này, một khát vọng rằng thuật chụp ảnh quảng cáo cũng thích được cầu khẩn đến nhanh. Nhiếp ảnh gia người Mỹ Joel-Peter Wilkin 1939- dường như đang trong cuộc nghiên cứu về sự huyền bí mà được sử dụng nhiều trong kỹ thuật chụp ảnh như là trong cơ thể con người. Ông ta phát biểu “tôi đã xây dựng lại tính tiêu cực, tôi kích thích nó, tôi thêm các ký hiệu, và tôi tẩy một phần chúng đi, Tôi đang thiết kế lại hình ảnh, tôi làm nó trở nên hùng mạnh hơn, và huyền bí hơn’’. Được sinh ra tại Brooklyn rồi chuyển tới quê mẹ ở Jewish, và quê cha ở Catholic, lúc 6 tuổi Witkin nhìn thấy một tai nạn xe ô tô khủng khiếp mà có dáng dấp trong thế giới ảnh của anh ta. Sau khi học lịch sử nghệ thuật và chụp ảnh, ông đã lao mình vào chế tạo các hình ảnh với bối cảnh rất tỉ mỉ và phức tạp, muợn nguồn cảm hứng như huyền bí, Man Ray, ở Chicago, vẫn sống mãi từ thế kỹ 16 và thế kỷ 17 và, đông đảo các nghệ sĩ tranh ảnh và chủ nghĩa hiện thực thế kỷ 19 – cuộc họp ngắn ngủi của anh ấy với Diane Arbus trước khi vụ tự tử của cô ấy thực sự gây ảnh hưởng tới Man ray. Những bức ảnh của anh ấy về sự méo mó về cơ thể và những phần của xác chết thường là nguyên nhân của việc bị tổn thương. Witkin đã khảo sát tỉ mỉ vũ trụ giới tính của mình và dám chỉ cho chúng ta thấy vẻ đẹp’ của cơ thể mà chúng ta e ngại nhìn vào nó, và luôn luôn là sau khi có sự chuẩn bị lâu dài, ông đã tạo nên các bức ảnh khổ lớn trong xưởng phim. Thực tế trong các cơ thể trần truồng của Witkin là có sự ảnh hưởng rất nhiều trong nghệ thuật chụp ảnh Trong khi Witkin sử dụng máy ảnh mà được sản xuất cách đây hơn một trăm năm, công nghệ kỹ thuật cũng đã có ảnh hưởng lớn đến các cách mà rất nhiều thợ chụp ảnh đã làm các bức ảnh của mình. Những máy camera hiện đại với các chức năng tự động xem như đã giảm thời gian mà máy ảnh cần để chụp một bức ảnh, và một số thì được sản xuất với ngày chụp được ghi rõ, chỉ ra chính xác cái thời điểm mà thấu kính máy ảnh được mở. Điều này cũng khuyến khích sản xuất những cuốn nhật ký bằng mắt thân mật mà mang lại kết quả cho một số nghệ sĩ kinh nghiệm trong một số tình huống để làm các bức ảnh của họ. Ở phương Tây, tác phẩm của các nhiếp ảnh gia Nhật bản Nobuyoshi Araki 1940 thường được nghĩ là chỉ trong mối quan hệ với thông dâm và ác dâm nhưng, bằng cách sử dụng liên tục máy camera mi ni với chỉ định ngày, ông đã tạo ra ước muốn trong cuộc hành trình hấp dẫn của mình. Ralph Gibson Mắt, người đần độn 1975, Với Gibson, việc tạo ra tính năng động trong các dụng ý hình ảnh của anh ấy là loại ra mỗi thành tố cho tới khi không gì còn sót lại trừ những cái anh ấy muốn. 12, Ảnh khỏa thân thương mại Trong những năm 1970 và 1980, các nhiếp ảnh gia thời trang bắt đầu hiện diện một cái mới, hình ảnh đối đầu với cơ thể phụ nữ. Người đi tiên phong trong khía cạnh này là Helmut newton người Đức 1920-2004. Những bức ảnh khoả thân của Newton chỉ đơn thuần là về giới tính, với hàm ý đe doạ, và mặc dù người mẫu của anh ấy có xu hướng được mô tả là một phần của xã hội, mà họ thường được đặt vào, nhìn bên ngoài giống như bài phóng sự trong môi trường bẩn thỉu, liên quan tới khả năng tưởng tượng và điều sùng bái. Công việc làm cho anh ấy ảnh hưởng nặng nề nghệ thuật chụp ảnh thời trang mặc dù một số được cho rằng là có tính khêu gợi cao cho các tạp chí Mỹ và kêu gọi chỉ xuất bản những cái này ở Châu Âu Những năm 1980, Newton đã cởi truồng phụ nữ một cách chủ động và độc lập trong sê ri ảnh với tên gọi là The big Nude’ , trong sê ri ảnh này, phụ nữ khoả thân thực sự và họ rất cao, họ chẳng mặc gì nhưng có trang điểm và mang dày cao gót, The big nude’ được trưng bày bằng hình thức in cỡ lớn, mà nó có xu hướng khiêu khích người xem bằng cách thể hiện những phụ nữ tự tin người luôn có ý thức về vẻ đẹp và sự khêu gợi của mình. Các nhiếp ảnh gia khác cũng theo ví dụ của Newton và cùng có mong ước thúc đẩy ảnh khoả thân tới mức hạn chế. Với nhiều sự lụa chọn từ tạp chí, hay trên ti vi, vidiô, phim ảnh, những hình ảnh nổi bật luôn được sử dụng để túm lấy sự chú ý của công chúng. Chiến dịch của Benetton những năm 1980, là cái nhìn thanh lịch anh hùng của những năm 1990, và bô ảnh hành động khiêu dâm nghệ thuật’ ngay sau khi thành công trong việc gây sốc cho người xem bằng cách sử dụng táo bạo nội dung chính trị trong các hình ảnh mang xu huớng thời trang. Khi nhìn vào chiến dịch công khai của nhiếp ảnh gia người Mỹ này Terry Richarson 1965 Xem xét ở góc độ thẩm mỹ và theo sau các nhiếp ảnh gia mà thường phải chụp nơi thứ 2 cho ảnh hưởng thương mại, thì nghệ thuật chụp ảnh cũng được thiết kế để có, và điều này được áp dụng Lucien Clergue La Churte des Anges’ được in vào năm 2002 và không tiêu biểu lắm với Lucien, chỉ ra có bao nhiêu công việc của một nhiếp ảnh gia có thể rút ra được. Clergue là một người bạn của Picasso, và tác phẩm gần đây nhất của ông ấy rõ ràng chỉ ra mối quan tâm của ông ấy tới nghệ thuật bên cạnh mục đích chụp ảnh.
Ca DaoTàng kinh các 2022-10-25T212927-0500Một liên tưởng khác về sự khỏa thân trong nghệ thuậtỞ phương Đông, sự khỏa thân cũng có xuất hiện trong nghệ thuật chân chính, và thực tế nó đã xuất hiện từ thời kỳ còn rất xa xưa chứ không phải là mới có. Nhưng sự khỏa thân đó không hề được truyền ra công chúng. Còn ở phương Tây, sự khỏa thân xuất hiện rất nhiều trong hội họa. Dù có cách nhìn nhận về nghệ thuật và văn hóa khác nhau, nhưng rốt cục, sự khỏa thân trong nghệ thuật phương Đông và phương Tây ở thời kỳ đỉnh cao đều mang một hàm nghĩa thiêng liêng và chân với nghệ thuật phương Tây, hầu hết các tác phẩm nghệ thuật phương Đông đều không chứa đựng yếu tố khỏa thân hay bán khỏa thân. Đây là sự khác biệt về văn hóa và cách nhìn nhận nghệ thuật. Ở phương Tây, những bức tranh Phục Hưng vươn đến sự chính xác cao trong việc mô tả thân thể người, từ đường nét, tỉ lệ, sự biến đổi cơ bắp, Hàm ý của sự khỏa thân trong hội họa phương Tây thực sự là hướng tới cái đẹp. Và cái đẹp đó là gì? Ở thời điểm đỉnh cao nhất của thời kỳ Phục Hưng, “hoàn mỹ” chính là yếu tố khiến nghệ thuật Phục Hưng có thể biểu đạt thế giới của Chư “Prometheus Steals Fire from Apollo’s Sun Chariot”, 1814, mô tả cảnh thần Prometheus lén lấy lửa từ cỗ xe của Thần Mặt trời để trao cho con người Họa sĩ Giuseppe Collignon, WikimediaNhững vị nam Thần và nữ Thần khỏa thân, bán khỏa thân không phải là hiếm gặp trong hội họa phương Tây. Chính vì vậy, người phương Tây thời xưa đã quen với sự khỏa thân trong nghệ thuật và rất nhiều tác phẩm thời đầu là không mang yếu tố khêu gợi hay kích động dục vọng. Tất nhiên, nghệ thuật phương Tây hiện đại đã xuống dốc, không hề làm được điểm này, và đã khiến sự khỏa thân trở thành một phương tiện để bộc lộ dục vọng từ phía phụ diện của nhân tính. Xem vấn đề này trong bài Nhìn lại một giai đoạn hưng suy của nghệ thuật nhân loạiBức tranh mô tả cảnh vị Thần bình minh Aurora đi trước mở đường cho Thần Mặt Trời để mở đầu ngày mới, 1614 Họa sĩ Guido ReniỞ phương Đông, tại một số nền văn minh nơi Nho giáo thịnh trị, sự khỏa thân cũng có xuất hiện trong nghệ thuật, và thực tế nó đã xuất hiện từ thời kỳ còn rất xa xưa chứ không phải là mới có. Nhưng sự khỏa thân đó không hề được truyền ra công chúng. Các bức tranh Trung Hoa thời xưa đều không hề mang yếu tố khỏa thân, một phần là vì giá trị đạo đức của người Trung Hoa xưa nghiêm khắc hơn đối với vấn đề dục vọng. Vậy chúng ta hãy lấy nền văn minh được cho là lâu đời nhất ở phương Đông trải dài liên tục năm là nền văn minh Trung Hoa làm ví một vùng sa mạc rộng lớn phía Tây Bắc Trung Quốc, có một ốc đảo nhỏ hình một chiếc lá, cách thành phố Đôn Hoàng 25 km về phía Tây Nam. Đây là nơi những bức bích họa trên tường nổi tiếng thế giới được tìm thấy tại hang đá Mạc Cao, hay còn gọi là Thiên Phật Động, một hệ thống gồm nhiều ngôi đền với các công trình chạm khắc trong đá, các bức tượng điêu khắc, và những bức bích họa. Nơi đây lưu giữ tổng cộng hang động, 492 ngôi đền, bích họa, kinh sách và thư tịch, pho tượng. Nếu trải các bức bích họa Thiên Phật Động ra liên tiếp nhau, người ta sẽ có một hành lang dài 25 Phật Phật Động được bắt đầu xây dựng vào năm 366 và đạt đến thời kỳ hoàng kim vào thời đại nhà Đường 618-907, nhưng phải đến nhà Nguyên 1279-1368 thì nói mới được hoàn thành toàn bộ. Công trình này đã được xây dựng trải dài suốt 10 triều đại Trung Hoa. Chính vì thế, người ta gọi Thiên Phật Động là một kỳ quan có một không hai của thế giới, là đỉnh cao của nghệ thuật trong tín ngưỡng phương kỳ quan trong Thiên Phật bức bích họa Đôn Hoàng có chủ đề chính là về tín ngưỡng Phật gia, với những câu chuyện về Phật Pháp, về Thần, quỷ, thiên giới, các truyền thuyết, niềm tin luân hồi, Và điều đặc biệt là, người ta thấy sự xuất hiện của những tiên nữ bán khỏa tiên nữ bán khỏa thân trên bức bích họa Đôn thể nói đây là một điều nằm ngoài sức tưởng tượng của rất nhiều người phương Đông. Thứ nhất là, người ta luôn tin rằng nghệ thuật phương Đông chân chính thời bấy giờ không có yếu tố khỏa thân. Thứ hai là, chuẩn mực đạo đức phương Đông thời bấy giờ lấy Nho gia làm chủ, nên càng không chấp nhận yếu tố khỏa thân. Thứ ba là, với đạo Phật, sự khỏa thân lại càng là một điều đại kỵ. Vậy tại sao lại có sự xuất hiện của những thiên nữ bán khỏa thân ở Thiên Phật Động, nơi tập trung tín ngưỡng tâm linh của một nền văn hóa Trung Hoa rực rỡ nhất phương Đông?Phi Thiên trong một bức bích họa Đôn mặt tín ngưỡng, các thiên nữ bán khỏa thân được vẽ trong những bức bích họa Đôn Hoàng được gọi là các Phi Thiên. Tương truyền rằng, các Phi Thiên sẽ xuất hiện khi có những sự việc vô cùng thù thắng xảy ra trên thiên giới hay dưới nhân gian, bởi vì họ là những tiên nữ phụ trách về nghi lễ, biểu hiện sự hân hoan của Thiên thượng. Chỉ khi có một vị Phật giảng Pháp, truyền đạo, hay một người tu luyện chứng đắc được quả vị và viên mãn, thì các Phi Thiên mới tới có Phi Thiên trải hoa, có Phi Thiên tấu nhạc, có Phi Thiên bay lượn nhảy Thiên là những tiên nữ phụ trách về nghi lễ, biểu hiện sự hân hoan của Thiên tín ngưỡng Phật gia, việc sáng tác nghệ thuật thời đó không phải là một việc làm bừa bãi. Người tu luyện Phật Pháp cũng không hề tùy tiện tưởng tượng ra thế giới của Chư Thần Phật mà vẽ nên một bức bích họa. Các bức bích họa Đôn Hoàng là tác phẩm của những cao tăng thời xưa, trong khi đả tọa tu luyện tình cờ chứng kiến được cảnh tượng thù thắng nơi Thiên giới, muốn lưu giữ lại ký ức đó cho hậu nhân, mới vẽ nên những cảnh tượng như vậy. Vậy nên, các Phi thiên của phương Đông thực sự là có trang phục bán khỏa Thiên nhảy múa bên dưới đài sen của các vị Phật và Bồ giáo có giảng về kết cấu của vũ trụ trên quan điểm các chiều không gian, và cho rằng trong tam giới có nhiều tầng trời với những cách phân chia khác nhau. Các khái niệm như 9 tầng trời, hay 33 tầng trời đều xuất phát từ kết cấu phức tạp của các chiều không gian trong tam giới. Cũng có một cách phân chia khác cho tam giới trong Phật gia là Dục giới; Sắc giới; và Vô sắc giới. Sắc giới thì không còn có dục, còn Vô sắc giới thì cả sắc cũng không còn. Cách phân chia này có hàm nghĩa rằng ở những tầng trời cao hơn thì sắc và dục đều không tồn tại. Con người là có sắc tâm và dục vọng, nhưng Thiên thượng không hề có điều đó. Tiêu chuẩn về trang phục cũng từ đó mà có thay đổi. Đó chính là lý do vì sao các Phi thiên của phương Đông lại có trang phục bán khỏa ảnh các vị Bồ Tát trong một bức bích họa Đôn tại sao nghệ thuật này lại không được truyền ra công chúng? Bởi vì con người ta là có dục vọng, nên những bức tranh khỏa thân có thể dẫn khởi ác tâm của con người mà bất kính với Thần linh. Chính vì thế, bán khỏa thân trong nghệ thuật phương Đông không hề được truyền ra bên ngoài, mà chỉ tồn tại ở những nơi linh thiêng. Các cao tăng thời xưa khi tu luyện đến một trình độ nhất định cũng không còn dục vọng và sắc tâm nữa, nên khi ngắm nhìn các bức bích họa thì chỉ nảy lên cái tâm kính ngưỡng trước cảnh tượng thiên giới mà ảnh thế giới Cực Lạc của Phật A Di Đà trên một bức bích họa Đôn cạnh ẩn đố của Thiên Phật Động, còn một ẩn đố khác liên quan đến vấn đề sắc dục trong các tác phẩm nghệ thuật phương Đông tại Tây Tạng. Theo đó, tại Tây Tạng, trong các chùa chiền từ xa xưa, người ta có thể tìm thấy phổ biến hình tượng dương vật và cho rằng tín ngưỡng Tây Tạng thờ phụng những điều này. Kỳ thực Phật giáo Tây Tạng ở thời kỳ đầu được gọi là Lạt Ma giáo, ở phương Đông được gọi là Mật Tông. Thời đó Mật Tông không hề được truyền ra công chúng vì môn này có giảng vấn đề “nam nữ song tu”, có thể gây rối loạn chuẩn mực đạo đức và khơi gợi dục vọng của con người, chỉ được phép thực hành khi các cao tăng đạt đến cảnh giới đoạn tuyệt sắc tâm và dục vọng. Nguyên chữ Mật 密 vốn có hàm nghĩa là không để lộ, không cho người ngoài cuộc biết tới. Chính vì thế, những gì được truyền ra dưới danh nghĩa Mật Tông đều không được đầy vậy thì sự khỏa thân trong nghệ thuật phương Tây mang hàm nghĩa hướng đến sự hoàn mỹ mà biểu lộ Chư Thần; còn sự khỏa thân trong nghệ thuật phương Đông lại được giới hạn ở chốn linh thiêng, dành cho những người tu luyện đã đoạn dứt khỏi sắc Phi Thiên đang muốn nói điều gì cho nhân thế?Những Phi Thiên trên các bức bích họa Đôn Hoàng, những tiên nữ phụ trách về nghệ thuật chốn Thiên thượng, dường như đang ngầm nói với chúng ta rằng Nhân loại cần nhìn nhận lại sự khỏa thân chân chính trong nghệ thuật. Bởi vì ý nghĩa của nó chính là một biểu hiện của con người hướng đến Chư Thần, chính là một phần của nghệ thuật ngợi ca Chư Minh
ảnh khoả thân nghệ thuật phương tây