Trường hợp xác định giáo viên cho phép học viên tự điều khiển phương tiện trên đường, người này có thể bị xử lý hình sự về tội Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ (Điều 264) hoặc Vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (Điều 129) tại Bộ luật Hình sự 2015.
Phòng khám đa khoa 5 sao Hà Nội trực thuộc Công ty Cổ phần Sức khỏe và Môi trường Hà Nội - Công bố cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đủ điều kiện khám sức khỏe cho người lái xe. Ngày đăng 06/01/2021 | 09:29 | Lượt xem: 1191. Xem chi tiết tại đây:
Hỏi : Chào luật sư, đề nghị luật sư cho biết hành vi giao phương tiện cho người không đủ điều kiện điều khiển bị xử lý như thế nào? Đáp : Về vấn đề bạn hỏi, Văn phòng luật sư JVN xin trả lời như sau Thời gian gần đây xuất hiện ngày càng nhiều học sinh
1.Người lái xe tham gia giao thông phải đủ độ tuổi, sức khoẻ quy định tại Điều 60 của Luật này vàcó giấy phép lái xe phù hợp với loại xe được phép điều khiển do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp. Người tập lái xe ô tô khi tham gia giao thông phải thực hành trên xe tập lái và có giáo viên bảo trợ tay lái."
3 - Nếu đủ điều kiện an toàn, người lái xe phải tăng tốc độ, đi sát về bên phải của phần đường xe chạy cho đến khi xe sau đã vượt qua. Câu 66/ Trong các trường hợp dưới đây, để đảo bảo an toàn khi tham gia giao thông, người lái xe mô tô cần thực hiện như thế
Theo Nghị định 100/2019/NĐ-CP, mức phạt khi chủ xe cho người không đủ điều kiện mượn xe được quy định như sau: - Chủ xe ôtô, xe gắn máy, cho người khác mượn xe không đủ các điều kiện theo quy định sẽ bị phạt tiền từ 800.000 đồng đến 2 triệu đồng đối với cá
Việc chủ phương tiện cho người khác mượn xe mà người mượn xe để tham gia giao thông không có đủ điều kiện tham gia giao thông sẽ bị xử phạt theo quy định tại Nghị định 171/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
Ngoài ra, người Giao xe hoặc để cho người không đủ điều kiện điều khiển cũng bị phạt tiền từ 800.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với cá nhân và từ 1.600.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe, Theo quy định tại Khoản 5 Điều 30 Nghị định 100/2019/NĐ-CP. Xe cũng sẽ bị tạm giữ 7 ngày.
Vay Tiền Nhanh Ggads. LSVN - Hành vi giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ là hành vi nguy hiểm cho xã hội. Nếu người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ mà gây thiệt hại cho người khác do không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông thì người đó có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự và người giao phương tiện cũng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 264 Bộ luật Hình sự 2015. Ảnh Xét xử vụ án - Tòa án Khu vực Quân khu 2. Tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện giao thông đường bộ" theo quy định tại Điều 264 Bộ luật Hình sự BLHS năm 2015 là một tội danh mới được tách từ tội “Điều động hoặc giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ” theo quy định tại Điều 205 BLHS năm 1999 và được quy định như sau Điều 264. Tội giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ1. Người nào giao cho người mà biết rõ người đó không có giấy phép lái xe hoặc đang trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy, chất kích thích mạnh khác hoặc không đủ các điều kiện khác theo quy định của pháp luật điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ đồng đến đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năma Làm chết người;b Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;c Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;d Gây thiệt hại về tài sản từ đồng đến dưới Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ đồng đến đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năma Làm chết 02 người;b Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;c Gây thiệt hại về tài sản từ đồng đến dưới Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năma Làm chết 03 người trở lên;b Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;c Gây thiệt hại về tài sản đồng trở Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ đồng đến đồng. Các yếu tố cấu thành tội phạm của tội giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ - Mặt khách quan Hành vi giao xe cho người mà biết rõ là người đó không có đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ là hành vi trái pháp luật, xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng. Để xác định hành vi giao xe cho người không có đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ có phải là hành vi của tội phạm hay không phải căn cứ vào việc người đó có biết hoặc buộc phải biết người được giao phương tiện để tham gia giao thông không có đủ điều kiện điều kiện không. Mối quan hệ nhân quả Hành vi giao xe cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ là nguyên nhân dẫn đến hậu quả thiệt hại về tài sản, sức khỏe, tính mạng của người khác. Nếu hậu quả xảy ra không xuất phát từ việc người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ thì người giao xe không phải chịu trách nhiệm về hậu quả đó. - Mặt chủ quan Lỗi của người phạm tội là lỗi vô ý. Đối với tội phạm này, người phạm tội tuy thấy trước hành vi giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được hoặc người phạm tội không thấy trước hành vi đó có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó. - Chủ thể Chỉ có thể là chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp phương tiện tham gia giao thông đường bộ. - Khách thể Tội phạm này xâm phạm đến an toàn công cộng, trật tự công cộng; ngoài ra còn xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác. Hiện nay, qua thống kê trên cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tối cao thì số lượng bản án được công bố đối với tội phạm này là rất ít. Theo thống kê tại cổng thông tin điện tử Công bố bản án, quyết định của tòa án thì tính đến 30/9/2020 chỉ có 07 bản án xét xử về tội phạm này được công bố. Qua đó, phần nào cho thấy số lượng các vụ án xét xử về tội danh này là tương đối ít và hình phạt áp dụng là tương đối nhẹ chủ yếu là phạt tiền hoặc cải tạo không giao giữ mặc dù hành vi giao xe cho người không đủ điều kiện tham gia giao thông đường bộ gây tai nạn là tương đối phổ biến như việc bố, mẹ giao xe cho con chưa có bằng lái; giao xe cho người đã sử dụng rượu, bia vượt quá mức quy định…. Theo quan điểm của người viết, thực tế này cũng xuất phát từ quan điểm, cách hiểu quy định của BLHS còn khác nhau giữa những người thực thi pháp luật trong việc xử lý hình sự đối với hành vi này. Vụ án Chiều ngày 29/9/2019, Nguyễn Văn A sinh năm 1965 và Trần Thế B sinh năm 1988 sử dụng xe mô tô do A là chủ sở hữu để đi ăn giỗ ở quê với khoảng cách là 20 km. Trong quá trình ăn uống, A và B có sử dụng mỗi người khoảng 0,5 lít rượu. Sau khi ăn xong, A đã giao xe và chìa khóa xe cho B để điều khiển chở A cùng về nhà. Trên đường về, do trời mưa, đường trơn, đồng thời do B đã sử dụng rượu bia nên không làm chủ được tốc độ đã tự ngã trên đường dẫn đến B tử vong tại chỗ, A bị thương tích 21% và xe mô tô bị hư hỏng nhẹ. Trường hợp này, A có phạm tội "Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện giao thông đường bộ" theo quy định tại Điều 264 Bộ luật Hình sự năm 2015 hay không còn có những quan điểm khác nhau. Cụ thể Quan điểm thứ nhất Cho rằng hành vi giao xe của Nguyễn Văn A không cấu thành tội "Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ" theo quy định tại Điều 264 BLHS 2015. Bởi lẽ, Trần Thế B điều khiển xe mô tô dẫn đến tai nạn gây hậu quả nghiêm trọng chết 1 người, nhưng người chết ở đây lại chính là B chứ không phải là "người khác" nên hành vi giao xe của Nguyễn Văn A không cấu thành tội phạm theo Điều 264. Cũng có nghĩa là nếu A giao xe cho B điều khiển mà B gây tai nạn làm "thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác", là người thứ 3 ngoài A và B thì B mới phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này. Quan điểm thứ hai Đồng thời cũng là quan điểm của người viết, lại cho rằng, hành vi giao xe của A đủ yếu tố cấu thành tội " Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ" theo quy định tại Điều 264 BLHS 2015. Mặc dù chưa có hướng dẫn cụ thể của cấp có thẩm quyền, tuy nhiên quy định về “người khác” tại Điều 264 BLHS 2015 phải được hiểu là chỉ loại trừ chủ thể của tội phạm tức là chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp phương tiện tham gia giao thông đường bộ được giao cho người không đủ điều kiện đó. Hay nói cách khác, quy định “Gây thiệt hại cho người khác” bao gồm cả việc gây thiệt hại về tài sản, sức khỏe, tính mạng của người được giao phương tiện. Bởi lẽ, A biết rõ B đã sử dụng một lượng rượu vượt ngưỡng cho phép 0,5 lít, nhưng vẫn giao xe cho B điều khiển, dẫn đến tai nạn làm B tử vong. Hành vi của A đã xâm phạm đến an toàn công cộng, trật tự công cộng và dẫn đến hậu quả là B hoặc người thứ 03 chết đều là thiệt hại về tính mạng con người giống nhau. Vụ án nêu trên có tình tiết đơn giản và việc chủ sở hữu phương tiện giao cho người khác không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ là khá phổ biến trong xã hội hiện nay, như việc bố, mẹ giao xe mô tô, ô tô cho con chưa có giấy phép lái xe hoặc giao cho người biết rõ là có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định… điều khiển tham gia giao thông đường bộ gây tai nạn dẫn đến hậu quả thiệt hại về tài sản, sức khỏe và tính mạng cho chính người điều khiển phương tiện. Cho nên, việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi này góp phần răn đe, phòng ngừa các tội phạm xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng nói chung và hành vi giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ nói riêng. Đồng thời, hạn chế những hậu quả thương tâm, đáng tiếc do tai nạn giao thông đường bộ gây ra. Bài viết là quan điểm cá nhân của người viết, do đó, rất mong nhận được sự quan tâm trao đổi của quý độc giả và các đồng nghiệp. NGUYỄN TỨTòa án Quân sự Quân khu 2 /trach-nhiem-phap-ly-cua-chu-dau-tu-trong
xe cho người chưa có GPLX gây tai nạn? Thưa luật sư, xin hỏi Tôi giao xe cho bạn tôi, chưa có giấy phép lái xe chở tôi gây bị tai nạn. Hành vi của tôi có vi phạm pháp luật không, nếu vị phạm thì bị xử lý như thế nào ? Cảm ơn! Trả lời Theo Luật Giao thông đường bộ, tại Khoản 1 Điều 58 quy định Người lái xe tham gia giao thông phải đủ độ tuổi, sức khoẻ quy định tại Điều 60 của Luật này và có giấy phép lái xe phù hợp với loại xe được phép điều khiển do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp. Ngoài ra, theo quy định tại Điểm đ Khoản 5 Điều 30 Nghị định 100/2019/ND-CP về xử phạt đối với chủ xe như sau 5. Phạt tiền từ đồng đến đồng đối với cá nhân, từ đồng đến đồng đối với tổ chức là chủ xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự xe mô tô thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây…. đ Giao xe hoặc để cho người không đủ điều kiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 58 của Luật Giao thông đường bộ điều khiển xe tham gia giao thông bao gồm cả trường hợp người điều khiển phương tiện có Giấy phép lái xe nhưng đã hết hạn sử dụng… Chủ xe cũng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội quy định tại Điều 264 Bộ Luật Hình sự sửa đổi, bổ sung 2017, cụ thể Điều 264. Tội giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ 1. Người nào giao cho người mà biết rõ người đó không có giấy phép lái xe hoặc đang trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy, chất kích thích mạnh khác hoặc không đủ các điều kiện khác theo quy định của pháp luật điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ đồng đến đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm a Làm chết người; b Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; c Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%; d Gây thiệt hại về tài sản từ đồng đến dưới đồng…. Như vậy, chủ xe nếu giao xe cho người không có đủ điều kiện điều khiển phương tiện giao thông thì có thể bị xử lý theo các hình thức trên. Theo thông tin bạn cung cấp, bạn không biết rằng người bạn kia không có bằng lái xe và thiệt hại do hành vi vi phạm luật giao thông của người bạn đó gây ra chưa đến mức để truy cứu trách nhiệm hình sự. Do đó, bạn là chủ xe sẽ bị xử phạt hành chính theo quy định tại Khoản 5 Điều 30 Nghị định 100/2019/NĐ-CP như trên và mức phạt theo đó sẽ từ đồng đến đồng. Còn về trách nhiệm bồi thường cho người và tài sản bị thiệt hại do hành vi vi phạm luật giao thông của mà người bạn của bạn gây ra được thực hiện theo quy định của Bộ Luật dân sự. Người bạn của bạn điều khiển xe vi phạm luật giao thông gây tai nạn phải có trách nhiệm bồi thường cho người bị tai nạn và tài sản bị thiệt hại. Mức bồi thường do các bên thỏa thuận, phù hợp với mức độ thiệt hại trên thực tế. xử phạt hành chính khi không có bằng lái xe máy? Thưa luật sư, Tôi muốn hỏi Bạn tôi chưa có giấy phép lái xe nhưng tôi mượn xe của tôi để đi chơi thì bị công an yêu cầu xử phạt và tạm giữ phương tiện, Tôi muốn biết mức xử phạt hành chính khi không có giấy phép lái xe máy? Trả lời Các cá nhân muốn lái các phương tiện cơ giới trên đường đều phải có giấy phép lái xe. Tất cả các trường hợp lái xe mà không có giấy phép đều là các trường hợp vi phạm các quy định của pháp luật và bị xử lý vi phạm hành chính. Đây là vấn đề quan trọng, nhằm hướng tới an toàn trong hoạt động giao thông của cả nước. Thủ tục và mức xử phạt đối với hành vi này được quy định trong Nghị định số 100/2019/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt 1. Mức xử phạt Theo Điều 24 về xử phạt các hành vi vi phạm quy định về điều kiện của người điều khiển xe cơ giới thì hành vi tham gia giao thông không có giấy phép lái xe hoặc giấy phép lái xe không đúng quy định có 3 mức phạt tiền. – Phạt tiền đồng đến đồng đối với hành vi người điều khiển xe mô tô không mang theo giấy phép lái xe. – Phạt tiền đồng đến đồng đối với hành vi vi phạm là không có giấy phép lái xe của cơ quan có thẩm quyền cấp cho xe có dung tích xi lanh dưới 175 cm3 – Phạt tiền đồng đến đồng đối với hành vi vi phạm là không có giấy phép lái xe của cơ quan có thẩm quyền cấp cho xe có dung tích xi lanh trên 175 cm3 2. Thủ tục xử phạt Theo Điều 80 Thủ tục xử phạt Nghị định số 100/2019 /NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ Điều 80. Thủ tục xử phạt đối với chủ phương tiện, người điều khiển phương tiện vi phạm quy định liên quan đến giao thông đường bộ, đường sắt 1. Trong trường hợp chủ phương tiện vi phạm có mặt tại nơi xảy ra vi phạm, thì người có thẩm quyền xử phạt lập biên bản vi phạm hành chính và ra quyết định xử phạt hành vi vi phạm hành chính theo các điểm, khoản tương ứng của Điều 30 Nghị định này. 2. Trong trường hợp chủ phương tiện vi phạm không có mặt tại nơi xảy ra vi phạm, thì người có thẩm quyền xử phạt căn cứ vào hành vi vi phạm để lập biên bản vi phạm hành chính đối với chủ phương tiện và tiến hành xử phạt theo quy định của pháp luật, người điều khiển phương tiện phải ký vào biên bản vi phạm hành chính với tư cách là người chứng kiến và được chấp hành quyết định xử phạt thay cho chủ phương tiện. 3. Đối với những hành vi vi phạm mà cùng được quy định tại các điều khác nhau của Chương II Nghị định này, trong trường hợp đối tượng vi phạm trùng nhau thì xử phạt như sau …” Trân trọng./. Công ty Luật TNHH MTV Nam Sơn được thành lập từ năm 2012 chuyên giải quyết các vụ án tranh chấp đất đai, ly hôn, thương hiệu, ngân hàng với tôn chỉ hoạt động "Bảo vệ công lý - Phụng sự xã hội"
Những trường hợp chủ bị phạt khi cho mượn xe ảnh minh họa Những trường hợp chủ xe bị phạt khi cho mượn xe Theo quy định tại Nghị định 100/2019/NĐ-CP sẽ phạt tiền đối với việc cho mượn xe như sau Trường hợp 1 Cá nhân, tổ chức là chủ xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự xe mô tô Giao xe hoặc để cho người không đủ điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 58 của Luật Giao thông đường bộ điều khiển xe tham gia giao thông bao gồm cả trường hợp người điều khiển phương tiện có Giấy phép lái xe nhưng đã hết hạn sử dụng hoặc đang trong thời gian bị tước quyền sử dụng; Trường hợp 2 Cá nhân, tổ chức là chủ xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự xe ô tô Giao xe hoặc để cho người không đủ điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 58 đối với xe ô tô, máy kéo và các loại xe tương tự xe ô tô, khoản 1 Điều 62 đối với xe máy chuyên dùng của Luật Giao thông đường bộ điều khiển xe tham gia giao thông bao gồm cả trường hợp người điều khiển phương tiện có Giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ nhưng đã hết hạn sử dụng hoặc đang trong thời gian bị tước quyền sử dụng; Theo đó, điều kiện về tuổi tác và sức khỏe được quy định tại khoản 1 Điều 58 Luật giao thông đường bộ như sau Điều kiện về độ tuổi + Người đủ 16 tuổi trở lên được lái xe gắn máy có dung tích xi-lanh dưới 50 cm3; + Người đủ 18 tuổi trở lên được lái xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh có dung tích xi-lanh từ 50 cm3 trở lên và các loại xe có kết cấu tương tự; xe ô tô tải, máy kéo có trọng tải dưới kg; xe ô tô chở người đến 9 chỗ ngồi; + Người đủ 21 tuổi trở lên được lái xe ô tô tải, máy kéo có trọng tải từ kg trở lên; lái xe hạng B2 kéo rơ moóc FB2; + Người đủ 24 tuổi trở lên được lái xe ô tô chở người từ 10 đến 30 chỗ ngồi; lái xe hạng C kéo rơ moóc, sơ mi rơ moóc FC; + Người đủ 27 tuổi trở lên được lái xe ô tô chở người trên 30 chỗ ngồi; lái xe hạng D kéo rơ moóc FD; + Tuổi tối đa của người lái xe ô tô chở người trên 30 chỗ ngồi là 50 tuổi đối với nữ và 55 tuổi đối với nam. - Điều kiện về sức khỏe theo quy định tại Phụ lục số 1 ban hành kèm theo Thông tư liên tịch 24/2015/TTLT-BYT-BGTVT. Mức phạt khi chủ xe cho người không đủ điều kiện mượn xe Theo Nghị định 100/2019/NĐ-CP mức phạt khi chủ xe cho người không đủ điều kiện mượn xe được quy định như sau - Chủ xe ô tô, xe gắn máy cho người khác mượn xe không đủ các điều kiện theo quy định sẽ bị Phạt tiền từ - 02 triệu đồng đối với cá nhân, từ 1,6 - 04 triệu đồng đối với tổ chức. - Đối với chủ xe là xe ô tô, xe máy chuyên dùng cho người khác mượn xe mà người mượn không đủ điều kiện lái xe thì Phạt là 04 - 06 triệu đồng đối với cá nhân; 08 - 12 triệu đồng đối với tổ chức. Tải ngay iThong về điện thoại của bạn để tra cứu mức phạt giao thông Để giúp mọi người thuận tiện trong việc tra cứu các mức phạt vi phạm giao thông, THƯ VIỆN PHÁP LUẬT đã cho ra đời iThong – App tra cứu mức phạt giao thông Tải về App iThong trên Android TẠI ĐÂY Tải về App iThong trên iOS TẠI ĐÂY Hoặc Quét mã QR dưới đây Trung Tài Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email info
Mức phạt đối với người chưa đủ tuổi lái xe mô tô, xe gắn máy Ảnh minh họa 1. Điều kiện về tuổi lái xe của người tham gia giao thông Theo khoản 1 Điều 53 Luật Giao thông đường bộ 2008, người lái xe tham gia giao thông phải đáp ứng các điều kiện về độ tuổi, sức khỏe quy định tại Điều 60 Luật Giao thông đường bộ 2008 và có giấy phép lái xe phù hợp với loại xe được phép điều khiển do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp. Người tập lái xe ô tô khi tham gia giao thông phải thực hành trên xe tập lái và có giáo viên bảo trợ tay lái. Theo đó, điều kiện về tuổi và sức khỏe của người lái xe quy định như sau - Người đủ 16 tuổi trở lên được lái xe gắn máy có dung tích xi-lanh dưới 50 cm3; - Người đủ 18 tuổi trở lên được lái xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh có dung tích xi-lanh từ 50 cm3 trở lên và các loại xe có kết cấu tương tự; xe ô tô tải, máy kéo có trọng tải dưới kg; xe ô tô chở người đến 9 chỗ ngồi; - Người đủ 21 tuổi trở lên được lái xe ô tô tải, máy kéo có trọng tải từ kg trở lên; lái xe hạng B2 kéo rơ moóc FB2; - Người đủ 24 tuổi trở lên được lái xe ô tô chở người từ 10 đến 30 chỗ ngồi; lái xe hạng C kéo rơ moóc, sơ mi rơ moóc FC; - Người đủ 27 tuổi trở lên được lái xe ô tô chở người trên 30 chỗ ngồi; lái xe hạng D kéo rơ moóc FD; - Tuổi tối đa của người lái xe ô tô chở người trên 30 chỗ ngồi là 50 tuổi đối với nữ và 55 tuổi đối với nam. Người lái xe phải có sức khỏe phù hợp với loại xe, công dụng của xe. Bộ trưởng Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định về tiêu chuẩn sức khỏe của người lái xe, việc khám sức khỏe định kỳ đối với người lái xe ô tô và quy định về cơ sở y tế khám sức khoẻ của người lái xe. 2. Mức phạt đối với người chưa đủ tuổi lái xe mô tô, gắn máy Căn cứ khoản 11 Điều 2 Nghị định 123/2021/NĐ-CP, mức phạt đối với người chưa đủ tuổi lái xe quy định như sau - Phạt cảnh cáo người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi điều khiển xe mô tô, xe gắn máy kể cả xe máy điện và các loại xe tương tự xe mô tô hoặc điều khiển xe ô tô, máy kéo và các loại xe tương tự xe ô tô. - Phạt tiền từ đồng - đồng đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi điều khiển xe mô tô có dung tích xi lanh từ 50 cm3 trở lên; Như vậy, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi điều khiển xe mô tô, xe gắn máy sẽ áp dụng hình thức xử phạt hành chính nhẹ nhất đó là phạt cảnh cáo. Từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, có thể bị phạt tiền lên đến đồng. 3. Mức phạt đối với hành vi giao xe cho người chưa đủ tuổi lái xe Theo khoản 5 Điều 30 Nghị định 100/2019/NĐ-CP, hành vi giao xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự xe mô tô hoặc để cho người không đủ điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 58 của Luật Giao thông đường bộ 2008 điều khiển xe tham gia giao thông bao gồm cả trường hợp người điều khiển phương tiện có Giấy phép lái xe nhưng đã hết hạn sử dụng hoặc đang trong thời gian bị tước quyền sử dụng có thể chịu các mức phạt như sau - Phạt tiền từ đồng đến đồng đối với cá nhân là chủ phương tiện; - Phạt tiền từ đồng đến đồng đối với tổ chức là chủ phương tiện. Như Mai Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email info
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ T, TỈNH BÌNH DƯƠNGBẢN ÁN 88/2019/HS-ST NGÀY 05/07/2019 VỀ TỘI GIAO CHO NGƯỜI KHÔNG ĐỦ ĐIỀU KIỆN ĐIỀU KHIỂN PHƯƠNG TIỆN THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘNgày 05 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 78/2019/TLST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2019/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2019 đối với bị cáoHọ và tên Hồ Văn A, sinh năm 1982, tại tỉnh An Giang; hộ khẩu thường trú Ấp P, xã T, huyện Th, tỉnh An Giang; tạm trú Ấp 1, xã H, thị xã T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp Công nhân; trình độ học vấn 03/12, dân tộc Kinh; giới tính Nam; tôn giáo Không; quốc tịch Việt Nam; con ông Hồ Văn M, sinh năm 1953 và bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1953; bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Kim T1, sinh năm 1982 và có hai con, lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2009; tiền án, tiền sự Không; bị cáo tại ngoại, có Bị hại1. Ông Danh Th, sinh năm 1985; địa chỉ Ấp A, xã Đ, huyện G, tỉnh Kiên Giang đã chết.Người đại diện hợp pháp của bị hại Danh Th+ Bà Thạch Thị H, sinh năm 1982; địa chỉ 290/3, khu phố 2, phường A, thị xã Th, tỉnh Bình Dương vợ bị hại, có mặt.+ Bà Lục Thị H1, sinh năm 1964; địa chỉ thường trú Ấp A, xã Đ, huyện G, tỉnh Kiên Giang; tạm trú Ấp 1, xã H, thị xã T, tỉnh Bình Dương mẹ ruột của bị hại.+ Ông Danh L1, sinh năm 1966; địa chỉ thường trú Ấp A, xã Đ, huyện G, tỉnh Kiên Giang; hiện đang chấp hành án tại Phân trại số 2, Trại Giam Kênh 7 cục C10, Bộ Công an, ấp K, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang cha ruột của bị hại.Bà Lục Thị H1 và ông Danh L1 ủy quyền tham gia tố tụng cho bà Thạch Thị H theo giấy ủy quyền ngày 17/6/2019 và ngày 11/6/2019.2. Châu Thanh V, sinh năm 2005; địa chỉ Ấp A, xã Đ, huyện G, tỉnh Kiên Giang đã chết.Người đại diện hợp pháp của bị hại Châu Thanh V+ Bà Lục Thị H1, sinh năm 1964; địa chỉ thường trú Ấp A, xã Đ, huyện G, tỉnh Kiên Giang; tạm trú Ấp 1, xã H, thị xã T, tỉnh Bình Dương mẹ ruột của bị hại, có mặt.+ Ông Châu T, sinh năm 1978; địa chỉ 22/6B, tổ 8, khu phố 1B, phường T, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh cha ruột của bị hại, có Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hồ Nhựt L, sinh năm 2002; địa chỉ Ấp P, xã T, huyện Th, tỉnh An Giang. Người đại diện hợp pháp Bà Nguyễn Thị Kim T1, sinh năm 1982; địa chỉ Ấp P, xã T, huyện Th, tỉnh An Giang, có DUNG VỤ ÁNTheo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sauHồ Văn A là cha ruột của Hồ Nhựt L. Khoảng tháng 3/2017, L đến xã H, thị xã T, tỉnh Bình Dương để làm công nhân. Khoảng tháng 3/2018, A mua xe mô tô biển số và đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Do không có phương tiện đi lại nên L gọi điện thoại xin A gửi xe mô tô biển số lên Bình Dương cho L sử dụng. Biết rõ L là người chưa đủ tuổi điều khiển xe mô tô và chưa có giấy phép lái xe hạng A1 theo quy định nhưng A vẫn đồng ý giao xe cho L để sử 19 giờ 30 phút ngày 27/5/2018, L điều khiển xe mô tô biển số lưu thông trên đường ĐT747A theo hướng đi từ Ngã tư lô 349 về hướng Công an xã H. Khi lưu thông đến đoạn đường thuộc ấp 1, xã H, thị xã T, tỉnh Bình Dương, L điều khiển xe mô tô biển số chuyển hướng rẽ trái sang phần đường ngược chiều. Do L điều khiển xe mô tô không chú ý quan sát và không nhường đường cho các phương tiện lưu thông trên phần đường ngược chiều nên va chạm với xe mô tô biển số do ông Danh Th điều khiển chở Châu Thanh V. Hậu quả làm hai xe mô tô hư hỏng nặng, L bị thương tích nhẹ còn ông Th và V bị thương tích nặng được đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Dương cấp cứu và tử vong vào ngày 28/5/ quả khám nghiệm hiện trường và thực nghiệm điều tra xác định Hiện trường vụ tai nạn giao thông đường bộ xảy ra trên đoạn ĐT747A thuộc ấp 1, xã H, thị xã T, tỉnh Bình Dương. Đoạn đường xảy ra vụ tai nạn là đoạn đường thẳng tầm nhìn không bị che khuất, mặt đường được trải nhựa bằng phẳng rộng 14 mét, có hai vạch sơn trắng song song liên tục giữa đường chia mặt đường thành hai phần bằng, nhau mỗi phần đường rộng 07 mét thành hai chiều lưu thông riêng biệt, mỗi phần đường có vạch sơn không liên tục chia phần đường thành hai làn đường, mỗi làn đường rộng 3,50 trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T tạm giữ- 01 Một xe mô tô biển số 01 Một xe mô tô biển số 01 Một Giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Danh Th;- 01 Một Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 01 Một Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 01 Một Giấy chứng minh nhân dân mang tên Hồ Nhựt Biên bản khám nghiệm tử thi ngày 28/5/2018 và Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 385B/PC54-GĐPY ngày 01/6/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận Nguyên nhân chết của nạn nhân Châu Thanh V do Chấn thương sọ não, vỡ xương hộp sọ, dập não, xuất huyết Biên bản khám nghiệm tử thi ngày 28/5/2018 và Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 385B/PC54-GĐPY ngày 01/6/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận Nguyên nhân chết của nạn nhân Danh Th do Chấn thương sọ não, vỡ xương hộp sọ, dập não, xuất huyết Bản kết luận giám định pháp y về độ tuổi số 991/ĐT/2018 ngày 05/12/2018 của Trung tâm pháp y - Sở Y tế tỉnh Đồng Nai kết luận độ tuổi của Hồ Nhựt L là 17 tuổi +/- 06 tháng kể từ ngày giám định 04/12/2018. Do đó, khi thực hiện hành vi vi phạm pháp luật Hồ Nhựt L 15 tuổi, 11 tháng, 23 ngày nên chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự đối với Hồ Nhựt với xe mô tô biển số do ông Danh Th đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Ngày 04/01/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T ra Quyết định xử lý vật chứng số 33, trả lại xe mô tô biển số cùng với Giấy chứng nhận đăng ký xe và Giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Danh Th cho bà Thạch Thị H là vợ của ông trách nhiệm dân sựNgười đại diện hợp pháp của bị hại Danh Th yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí điều trị cho bị hại trước khi chết, chi phí chuyển xác về quê, chi phí mai táng, chi phí sửa chữa phương tiện, chi phí cấp dưỡng nuôi con và tổn thất tinh thần tổng cộng là đồng hai trăm triệu đồng. Người đại diện hợp pháp của bị hại Châu Thanh V yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí vận chuyển xác về quê, chi phí mai táng và tổn thất tinh thần là đồng năm mươi triệu đồng. Bị cáo chưa bồi trạng số 80/CT-VKS-TU ngày 17/5/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã T truy tố bị cáo Hồ Văn A về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 264 Bộ luật Hình phiên tòaBà Thạch Thị H là đại diện hợp pháp của bị hại Danh Th yêu cầu bị cáo bồi thường đồng bao gồm Chi phí điều trị trước khi chết là đồng, chi phí sửa chữa phương tiện là đồng, chi phí chuyển xác về quê là đồng, chi phí mai táng là đồng, tiền cấp dưỡng nuôi 02 hai con của Danh Th một lần đến 18 tuổi là đồng, tổn thất tinh thần là đồng. Về trách nhiệm hình sự Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định pháp Lục Thị H1 và ông Châu T là đại diện hợp pháp của bị hại Châu Thanh V yêu cầu bị cáo bồi thường đồng bao gồm Chi phí chuyển xác về quê là đồng, chi phí mai táng là đồng và tổn thất tinh thần là đồng. Về trách nhiệm hình sự Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định pháp diện hợp pháp của Hồ Nhựt L là bà Nguyễn Thị Kim T1 trình bày Bà T1 là vợ của bị cáo Hồ Văn A và là mẹ ruột của Hồ Nhựt L. Do hoàn cảnh gia đình khó khăn, không biết gia đình bị hại ở đâu và Hồ Nhựt L cũng bị thương tích sau tai nạn nên gia đình chưa bồi thường hỗ trợ cho gia đình bị diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã T phát biểu Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như nội dung cáo trạng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hơp ít nghiêm trọng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm a, khoản 2 Điều 264 và các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hồ Văn A từ 09 chín đến 12 mười hai tháng trách nhiệm dân sự Tại phiên tòa, bị cáo và đại diện bị hại đã thỏa thuận thống nhất số tiền bồi thường thiệt hại. Căn cứ Điều 584, 585, 591 Bộ luật Dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận Bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại Danh Th là đồng hai trăm triệu đồng và bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại Châu Thanh V là đồng năm mươi triệu đồng.Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp Đối với xe mô tô, Giấy chứng nhận đăng ký xe biển số và Giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Danh Th, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T đã ra quyết định trả lại cho bà Thạch Thị H là phù hợp. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên trả lại xe mô tô và Giấy chứng nhận đăng ký xe biển số cho bị cáo Hồ Văn A vì là tài sản hợp pháp của bị cáo, đồng thời tuyên trả lại cho Hồ Nhựt L một giấy chứng minh nhân dân tên Hồ Nhựt phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, lời nói sau cùng bị cáo hối hận về hành vi của mình, bị cáo đồng ý bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại như yêu cầu của đại diện bị hại. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có điều kiện đi làm chăm lo cho gia đình và bồi thường thiệt hại cho gia đình bị ĐỊNH CỦA TÒA ÁNTrên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử định như sau[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.[2] Tại phiên tòa, bị cáo Hồ Văn A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng và phù hợp những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận Bị cáo Hồ Văn A biết rõ Hồ Nhựt L chưa đủ tuổi điều khiển xe mô tô, không có giấy phép lái xe theo quy định nhưng vẫn giao xe mô tô biển số do A đứng tên đăng ký chủ sở hữu cho L sử dụng. Do đó, ngày 27/5/2018 L điều khiển xe không đúng quy định gây tai nại giao thông làm chết 02 bị hại Danh Th và Châu Thanh V. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 264 Bộ luật Hình sự. Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự Không có.[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo Bị cáo sau khi phạm tội có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.[5] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ, gián tiếp gây thiệt hại cho tính mạng của 02 người. Do đó, đối với hành vi của bị cáo cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời cũng nhằm răn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét toàn diện về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.[6] Về trách nhiệm dân sự Người đại diện hợp pháp của bị hại Danh Th yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí điều trị tại bệnh viện trước khi chết, chi phí chuyển xác về quê án táng, chi phí mai táng, chi phí sửa chữa phương tiện, chi phí cấp dưỡng nuôi con và tổn thất tinh thần với số tiền là đồng. Người đại diện hợp pháp của bị hại Châu Thanh V yêu cầu bồi thường chi phí vận chuyển xác về quê an táng, chi phí mai táng và tổn thất tinh thần với số tiền là đồng. Đây là những chi phí bồi thường khi tính mạng bị xâm phạm phù hợp theo quy định pháp luật và tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường số tiền trên nên Hội đồng xét xử ghi nhận.[7] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư phápĐối với xe mô tô, Giấy chứng nhận đăng ký mô tô biển số và Giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Danh Th, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T trả lại cho bà Thạch Thị H là phù với xe mô tô và Giấy chứng nhận đăng ký biển số là tài sản hợp pháp của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo Hồ Văn với Giấy chứng minh nhân dân tên Hồ Nhựt L là giấy tờ tùy thân, không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho Hồ Nhựt L.[8] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, hình phạt, trách nhiệm dân sự và biện pháp xử lý vật chứng là phù hợp.[9] Về án phí Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo phải bồi thường cho bị hại nên chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy các lẽ trên, QUYẾT ĐỊNH- Căn cứ vào các Điều 106, 136, 260, 308, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; - Căn cứ điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm a khoản 2 Điều 264 Bộ luật Hình sự;- Căn cứ các Điều 584, 585, 589, 591 Bộ luật Dân sự;- Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, 1. Về trách nhiệm hình sự Tuyên bố bị cáo Hồ Văn A phạm tội “a”.Xử phạt bị cáo Hồ Văn A 09 chín tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành Về trách nhiệm dân sựGhi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo Hồ Văn A và người đại diện hợp pháp của bị hại như sauBị cáo Hồ Văn A có trách nhiệm bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại Danh Th gồm Ông Danh L, bà Lục Thị H1 và bà Thạch Thị H số tiền đồng Hai trăm triệu đồng.Bị cáo Hồ Văn A có trách nhiệm bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại Châu Thanh V gồm Bà Lục Thị H1 và ông Châu T số tiền đồng Năm mươi triệu đồng.Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì còn phải thanh toán cho người được thi hành án khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành Về xử lý vật chứngHoàn trả cho bị cáo Hồ Văn A 01 một xe mô tô và 01 một Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số nhãn hiệu SeaSports, số khung 110*200134767*, số máy 2FMH*02234767*, màu sơn Xanh, dán tem Wave, không có dè trước, không yên ngồi, không cánh bửng; phần đầu xe hai phuộc, niềng, đèn, gương chiếu hậu bị gãy nát, xe hư hỏng nặng, xe không nổ máy không kiểm tra bên trả cho Hồ Nhựt L 01 một giấy chứng minh nhân dân tên Hồ Nhựt L, sinh ngày 09/10/2002, số 352619920.Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 23/5/2019.4. Về án phí- Án phí hình sự sơ thẩm Bị cáo Hồ Văn A phải chịu đồng Hai trăm nghìn đồng.- Án phí dân sự sơ thẩm Bị cáo Hồ Văn A phải chịu đồng Mười hai triệu năm trăm nghìn đồng.Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.
giao xe cho người không đủ điều kiện