"Người tính không bằng trời tính" lá số tử vi của Gia Cát Lượng chính ông cũng không thể thay đổi. Xem Tử Vi; Tử Vi Năm Nhâm Đần 2022; Lá số tử vi & bình giải ; Lá số tử vi & bình giải; Lá số Quỷ Cốc Toán Mệnh ; Dùng rượu thử người cũng là một điểm rất dị trong cách nhìn người của Gia cát Lượng. 6. LIÊM: cần sử dụng lợi lộc sự nghiệp để demo độ liêm chính. Cách nhìn bạn của Gia cát Lượng cũng xét đến chữ Liêm. Rất nhiều nơi ở đất nước Trung Hoa đã lập đền thờ để ghi nhớ những cống hiến của Gia Cát Lượng, nổi tiếng nhất trong số đó là đền thờ ở huyện Miễn, chân núi Định Quân (nơi an táng Gia Cát Lượng). Chỉ tính riêng đất Thục xưa đã thấy 40 đền thờ ông, tuy Lá số tử vi của Gia Cát Lượng - bậc thầy không tự cải được mệnh, Lá số tử vi Khổng Minh- Gia Cát Lượng, Vì sao Gia Cát Lượng Do vị trí xây dựng cầu Cát Lái nối Thành phố Hồ Chí Minh và Đồng Nai không phù hợp thực tế, Sở Giao thông Vận tải Thành phố Hồ Chí Minh vừa có văn bản báo cáo Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề xuất nghiên cứu bổ sung các phương án quy hoạch cầu kết nối hai Phân loại: Kéo cắt gà Wusthof - Model: Wusthof Poultry Shears - Dùng để cắt gà, vịt, gia cầm và các thực phẩm, vật dụng khác tại gia đình, nhà hàng. - Kích thước: 25.4 x 6.4 x 2.5cm - Trọng lượng: 210g - Chất liệu: thép không gỉ OPEC+ cắt sản lượng dầu, nghị sĩ Mỹ đề xuất rút vũ khí khỏi Ả Rập Saudi. TPO - Các nghị sĩ đảng Dân chủ đề nghị rút vũ khí Mỹ khỏi Ả Rập Saudi để trừng phạt quyết định cắt giảm sản lượng dầu được công bố tuần trước bởi Tổ chức Các nước xuất Tử vi đúng 7 ngày tới (16/10 - 22/10/2022), may mắn kéo đến nhà, 3 con giáp cất cánh bay cao, đổi đời đại gia, phát lộc phát tài, 'đô la' ngập tủ, mua biệt thự, tậu xe nhanh chóng Đây cũng là cơ hội cho người tuổi Tuất thu hết năng lượng tích cực mà bứt phá hơn nữa Vay Tiền Trả Góp Theo Tháng Chỉ Cần Cmnd. Có câu “mệnh vô chính diệu phi yểu tắc bần”, Gia Cát Lượng có Nhật Nguyệt cùng hợp chiếu mệnh nên cuộc đời từ trung vận thì tỏa sáng rực rỡ, tung hoành ngang dọc, tên tuổi lẫy lừngTử Vi, Tứ Trụ, Xem Tướng, Gieo quẻ, Xem bói Theo truyện, năm 54 tuổi, Gia Cát Lượng biết mình sắp chết trong khi sự nghiệp vẫn dở dang, ấu chúa vẫn còn nhỏ tuổi chưa cáng đáng được sự nghiệp. Ông quyết định làm phép cầm sao giữ mạng để chống lại mệnh trời hòng sống thêm 1 giáp nữa. Trong khi ông lập đàn thất tinh cần phải 7 ngày yên tĩnh không ai quấy rầy. Nhưng đến ngày thứ 6, vì việc quân khẩn cấp, một tướng đã xộc vào nơi ông đang làm phép. Bởi thế việc cầm sao thất bại. Tuy nhiên dưới góc nhìn của Tử vi học, cái căn bản nhất đối với người mệnh vô chính diệu là không thể thọ được. Các sách Tử vi lưu truyền từ xưa đều có câu “mệnh vô chính diệu phi yểu tắc bần”. Gia Cát Lượng dù có Nhật Nguyệt cùng hợp chiếu mệnh nên cuộc đời từ trung vận thì tỏa sáng rực rỡ, tung hoành ngang dọc, tên tuổi lẫy lừng. Tuy nhiên vẫn không tránh khỏi định mệnh cho người mệnh vô chính diệu là Giàu thì chết sớm mà nghèo thì thọ hơn. Tác giả Nguyễn Phúc Vĩnh Tùng viết “Người ta cũng cho rằng, Gia Cát Lượng chết sớm là vì sát nghiệp của ông quá nặng. Ông đã dùng hỏa công đốt chết 10 vạn quân đằng giáp của Mạnh Hoạch trong cốc Hồ Lô. Rồi lại dùng hỏa công đốt chết 18 vạn quân của Tào Tháo trên sông Xích Bích. Nhưng nếu chúng ta xét điều này dưới cái nhìn của khoa Tử Vi thì dù sát nghiệp của ông nặng hay nhẹ thì tuổi thọ của ông ta cũng sẽ được bao nhiêu với cái số mệnh Vô chính diệu?”. Ở một sách về Tử vi khác là cuốn Tử vi thực hành thì chỉ ra rằng năm 54 tuổi, Gia Cát Lượng gặp đại hạn ngộ Thái Tuế và một loạt sao xấu cho nên không thể qua được mà phải chết. Cuốn sách viết “Số Gia Cát có Tả hữu đồng cung Thái dương ở mão, Thái âm ở Hợi gọi là Nhật Nguyệt tinh minh cách, nên số cực phú quý, tài năng lỗi lạc. Năm 54 tuổi, đại hạn ngộ Thái Tuế, Thiên Thương, Hóa kỵ, Đại, tiểu hao, Kình Đà nên chết”. Gia Cát Lượng là người mệnh Mộc. Có sao mệnh chủ là Văn Các, đây là sao nói về khả năng sư phạm tài ba, cộng với sao điếu khách ở cung mệnh, có thể khẳng định ông là người có tài ăn nói, tài về diễn thuyết, tuy nhiên cung của ông là Kim, khắc với mệnh là Mộc nên không thể thọ lâu được. Chính vì Mộc với Hỏa và Thủy nên Gia Cát Lượng là người sử dụng hỏa công rất giỏi. Tại cung quan của Gia Cát Lượng có sao Thái Âm miếu địa, lại có Thiên Cơ vượng địa xung chiếu cộng với các sao Quốc ấn thiên mã, điều này khẳng định Gia Cát Lượng là người có công danh cao và sớm thành danh. Dưới thời nhà Thục 221- 263, Gia Cát Lượng giữ chức quân sư, nhưng thực chất là thừa tướng, chỉ sau vua, nắm mọi quyền hành của nhà Thục Hán. Gia Cát Lượng còn là người có tài dùng binh, vì xung chiếu với cung quan lộc, ông có sao Quốc ấn, Tướng Quân, đấy là những sao thể hiện quyết đoán của những vị tướng. Ở cung Nô Bộc của ông có sao Văn Xương, Thiên Hỷ, điều này cho thấy dưới quyền của Gia Cát Lượng có nhiều tướng lĩnh tài ba phò trợ cho ông gây dựng nghiệp lớn. Tuy nhiên, cung ở cung Nô Bộc lại có những sao xấu như Thiên Hình, Hóa Kỵ và Tuần nên ông cũng bị kẻ dưới trở cờ làm phản không tuân lệnh với như Mã Tốc, Ngụy Diên. Khổng Minh cực kỳ giỏi về thiên văn và các tướng số cũng như phong thủy, nên trong những trận đánh cụ thể, ông đã bài binh bố trận chặt chẽ để giành những thắng lợi huy hoàng ví dụ trận Xích Bích, Tân Dã, Bái Vọng…. Khi đó, theo Lưu Bị buổi ban đầu, đất và quân không có nhiều, Gia Cát Lượng đã biết xoay chuyển tình thế, vào đất Tây Thục. Dựa vào vùng hiểm trở của đất ấy tạo ra thế chân vạc của thời Tam Quốc. Tuy nhiên, trong thuật dùng binh có những trận đánh vì đại cuộc, Gia Cát Lượng đã tiêu diệt rất nhiều sinh linh. Chính vì vậy mà tuổi thọ của Gia Cát Lượng không cao được. Là người hiểu thời thế, ông biết là vận mệnh của nhà Hán đã suy nhưng vẫn một lòng phò tá Lưu Bị dựng đại nghiệp, mặc dù biết thiên thời không đứng về phía mình. Trong cuộc đời chinh chiến 27 năm, Gia Cát Lượng đã dùng tài trí của mình xoay đổi càn khôn, chuyển bại thành thắng, nhưng đối với vận mệnh của bản thân thì thường không xoay đổi được. Trước khi mất, khi xem Thiên tướng, ông cũng biết được, vận mình đã hết nhưng vì muốn sống thêm 12 năm 1 giáp nữa để phò tự nhà Hán thống nhất thiên hạ, nên Gia Cát Lượng đã đăng đàn, xin tuổi thọ, nhưng đúng vào thời khắc cuối cùng thì ngọn nến bản mệnh bị tắt do Ngụy Diên chạy vào trướng bị gió thổi vào, vì vậy mà ông không thể sống được nữa. Tương truyền đây là lá số của Khổng Minh Gia Cát Lượng Còn đây là bài luận giải của cụ Thiên Lương Ở bài trước, việc chấm phá vài nét cơ bản trong lá số Tào Tháo như một ví dụ làm rõ hơn mối quan hệ tương hỗ giữa các yêu tố “cung” và “sao” trong môn Tử vi. Hai yếu tố này được ví như hai phần “thế” và “lực” khi lượng định, xét đoán từng cung, từng đại vận, từng nội dung của lá số. Tiếp theo, bàn về chữ “thời” và sự đắc thời hay lỡ thời, lá số của Khổng Minh 181 – 234 sau Công Nguyên lại cho chúng ta một góc nhìn khác, để biết chữ “thời” quan trọng thế nào trong cuộc đời và sự nghiệp mỗi con người. Chả thế mà có câu “Lạc nước hai xe đành bỏ phí, gặp thời một tốt cũng thành công.” Đến như quân sư Khổng Minh – một kỳ nhân có tài “hô phong hoán vũ, liệu việc như thần”, được người đời sau xếp đứng đầu trong “tam tuyệt” thời Tam Quốc, trên cả hai người là Tào Tháo và Quan Vũ, cũng không thể vượt qua được chữ “thời” – như một cửa ải mang tính định mệnh này. “Mệnh tốt không bằng Thân tốt, Thân tốt không bằng Vận tốt” Đây là câu phú mà ít ai đã quan tâm đến các môn Lý học, nhất là Tử vi lại không thuộc nằm lòng. Thật ra, không thể hạ thấp giá trị và tầm quan trọng của cung Mệnh, cung an Thân, nhưng yếu tố thời vận, tức là chữ “thời” trong lá số nhiều khi có ý nghĩa quyết định thành bại của một đời người, nhất là về hậu vận. Có những người không may có cung Mệnh, Thân bất lợi, nhưng vào tuổi trưởng thành gặp được vận tốt, thoả chí phát huy được năng lực của mình trong một bối cảnh thuận lợi, gọi là cách “Khô mộc phùng xuân” cây khô gặp được mùa xuân, với một đại vận 10 năm đắc cách cũng đã thoả nguyện lắm rồi. Trường hợp này ví như hành trình cuộc đời trên một chiếc xe yếu, công suất thấp nhưng được đi trên đường cao tốc, lại gặp mưa thuận gió hoà nên vẫn bình ổn đi đến đích. Ngược lại, Mệnh – Thân có tốt mà vận quá xấu, ví như chiếc xe to đẹp, mạnh mẽ nhưng phải đi trên con đường núi hiểm trở, nhiều mưa to bão lớn nên luôn gặp trở lực, đời nhiều thăng trầm, thành quả không có là bao; khi ấy ý chí và nỗ lực bản thân đóng vai trò quyết định. Tệ nhất là khi Mệnh, Thân đã xấu mà vận cũng xấu, khi ấy tương lại mịt mờ, suốt đời nghèo khó, gian nan vất vả, khổ nạn liên miên, sức người dù có cố làm cũng chỉ cải thiện được phần nào. Vấn đề của nhiều người là Nếu có vận tốt, liệu có biết và tận dụng được các vận hội đắc cách ấy trong cuộc đời mình, hay là để lỡ thời rồi cuối đời phải nuối tiếc, ân hận! Vậy thế nào là một “vận” tốt? Trong Tử Vi phân ra Đại vận 10 năm, niên vận 1 năm, nguyệt vận 1 tháng, nhật vận 1 ngày, thời vận 1 canh giờ. Cách thức lấy từng loại vận trong một lá số và phương pháp xét đoán vấn đề vận hạn khá phức tạp và dài dòng nên xin hẹn quý vị ở một bài chi tiết khác riêng cho vấn đề này. Ở đây xin khái lược về đoán định Đại vận; các “vận” khác về cách thức xem xét cũng không khác nhau là mấy, nhưng theo nguyên tắc “Dĩ trường chế đoản” – tức là các “vận” dài quyết định các “vận” ngắn. Đại vận tốt thì tiểu có tiểu vận có xấu cũng không quá đáng ngại; còn tiểu vận nếu rực rỡ nhưng trong một Đại vận đắc cách, như thế mới là thật sự thuận lợi và đắc thời. Khi xem xét một đại vận, cần đồng thời quan tâm đến cả 3 yếu tố Thiên thời Xét cung cần xem xét trong tam hợp cung nào? Rồi xét tam hợp cung ấy so với tam hợp tuổi theo phép sinh – khắc để đưa ra nhận định Địa lợi Xét âm – dương, ngũ hành của cung cần xem xét so với bản mệnh của mình Tốt nhất là được sinh nhập, nếu bình hoà thì tạm ổn, kém nhất là mệnh bị khắc nhập hay bị sinh xuất. Khi ấy thành quả nếu có thường không trọn vẹn, được việc này dễ hỏng việc khác, có khi sa sút, đổ vỡ hay phá sản. Nhân hoà Xét tương tác các bộ sao của cung xem “vận” có hợp với các sao ở cung Mệnh, nhất là chính tinh hay không? Chú ý các sao Tứ Hoá, lục sát tin, nhất là các sao hợp hành với bản mệnh. Khi ấy, vai trò của các sao hợp nhau thành bộ đóng vai trò quyết định. Thông thường, khi quyết đoán một vận tốt cần chí ít 2 trong 3 yếu tố “thiên thời, địa lợi, nhân hoà” kể trên. Nếu may được cả 3 sẽ là vận tối hảo, nhưng trường hợp này rất hiếm. Còn lỡ khi gặp vận mất cả 3 yếu tố trên, nếu khinh xuất mà vọng động thì sẽ cầm chắc thất bại. Khi ấy, chỉ nên ẩn nhẫn chờ thời, “dĩ tĩnh chế động”, lấy tiêu chí bình ổn làm đầu để chờ cho qua vận xấu, rồi mới khởi sự làm ăn, đầu tư lớn hay các quyết định quan trọng về sự nghiệp, công danh. Quân sư Khổng Minh – người lỡ thời với đại nghiệp “phục Hán” Khổng Minh tên thật là Gia Cát Lượng, là người có tài kinh bang tế thế, một nhà chiến lược thiên tài, xuất sắc nhất trong thời Tam Quốc, đến mức người đời sau so với một thiên tài quân sự lớn khác là Tôn Tử. Từ năm 27 tuổi theo phò Lưu Bị đến khi về trời năm 54 tuổi, ông đã tận tâm tận lực giúp họ Lưu dựng lên đại nghiệp, cùng Tôn Quyền đại thắng trận Xích Bích, khiến cho Tào Tháo tơi tả, hồn xiêu phách lạc, rồi lấy Kinh Châu, định Tây Xuyên, bình Mạnh Hoạch, dưng nước ở đất Thục. Cùng với nước Nguỵ ở phía BẮc, Ngô ở phía Đông, Lưu Bị hoàn thành đế nghiệp, tạo thành thế chân vạc chia 3 thiên hạ. Thế nhưng, trời chẳng chiều người, biết vận nhà Hán đã tận mà ông vẫn cố cưỡng cầu chống đỡ đến cùng. Sáu lần tiến binh ra Kỳ Sơn dang dở, khiến cho ông lâm vào cảnh thể chất suy nhược, sức khoẻ hao tán. Đến lần thứ 6, tại gò Ngũ Thượng, biết mệnh mình sắp hết, ông đành “Sai tả hữu vực lên chiếc xe nhỏ ra trại, đi xem hết dinh. Gió đông rát mặt, lạnh buốt đến xương, mới thở dài than rằng Từ nay ta không được ra trận nữa. Trời xanh thăm thẳm, hận này biết bao giờ nguôi!” Ông hận ai? Với nhân thế thời ấy không đối thủ, ông hận cõi cao xanh kia đã bắt mình chịu yểu mệnh, hận chữ “thời” đã không ở lại với mình, để ông có thể dốc sức hoàn thành tâm nguyện “phù Hán” một cách trọn vẹn. Theo sách sử, Khổng Minh sinh vào giờ Tuất, ngày 10/04 năm Tân Dậu năm 181 dương lịch. Lá số âm nam, mệnh Mộc, thế cục “Kim tức cục” khắc mệnh, cung mệnh ở Mùi âm Thổ cũng bị mệnh khắc, đủ thấy sự nghiệp cuộc đời ông mất phần “thiên thời” mà chủ yếu nhờ vào nỗ lực bản thân. Ông có mệnh Vô Chính Diệu, tuy đắc cách cả bộ Tả Phù – Hữu Bật nhưng không có phụ tinh hay sát tinh hợp hành mệnh làm nòng cốt, cũng không có thể “đắc tam Không” nên vướng vào trường hợp “Phi tần tắc yểu, tam vô tự” nếu không nghèo tất yểu mệnh hoặc không có con trai. Trường hợp yểu mệnh của ông chính là vì thế. Điểm đặc sắc chính là cách “Nhật Nguyệt chiếu hư không” Sao Thái Dương ở Mão, Thái Âm ở Hợi chiếu lên mệnh ở cung Mùi, khiến ông trờ thành một tuyệt thế kỳ nhân, thông minh quán chúng, biết người và tỏ cả việc trời, dám đông đến thiên cơ. Cung an Thân ở cung Mão, có Thái Dương thuộc Hoả, Thiên Lương thuộc Mộc mới chính là cốt cách của ông, là thiên chức của người đảm nhận phận sự phò tá dựng nghiệp cho các bậc Vương Đế. Nhưng vì là mệnh Mộc phải sinh Hoả Thái Dương nên sự nghiệp và danh vọng càng rực sáng thì tinh khí và thể chất của ông càng sớm hao mòn, khô kiệt. Bộ sao Bệnh, Thiên Hư, Tuế Phá đóng ở cung an Thân càng làm rõ thêm điều này. Với cung Quan Lộc ở Hợi, có sao Thái Âm Thuỷ với người mệnh Mộc là tuyệt hảo, nên chức Thừa tướng với ông là chuyện quá đỗi bình thường. Nhưng cung này có bộ Cô Thần – Quả Tú và Tang Môn, Phục Binh nênoong là người cô đơn trong các ý tưởng và mưu cơ siêu việt của mình, cũng hay bị xàm tấu, ganh ghét chống phá sau lưng. Sao Thiên Mã – tượng trưng cho tài năng, nghị lực được đóng chính cung Hợi thuỷ Mã mới thực là thần diệu Nó không còn là “cùng đồ mã” ngựa hết đường chạy mà rất đắc dụng với người mệnh Mộc như ông. Cùng với sao Điếu Khách, Thanh Long ở mệnh, Hoá Quyền ở cung Tài cung an Thân, sao Thiên Mã này giúp ông trở thành nhà hùng biện, thuyết khách với văn tài xuất chúng. Xét về vận, Đại vận 44 – 53 tuổi của ông ở cung Mão – hợp với mệnh Mộc nên ông được phần “địa lợi”, tiếc rằng mất phần “thiên thời” do tam hợp Hợi, Mão, Mùi thuộc Mộc bị phía đối nghịc là cung Dậu, trong tam hợp Kim Tỵ, Dậu, Sửu khắc chế rất nặng. Đến phần “nhân hoà”, về đại cục thì có thuận lợi, nhưng lũ bất tài và bọn tiểu nhân cũng nhiều sao Bệnh, Tuế Phá, Thiên Hư, Địa Kiếp mà người mang lá số “văn cách” như ông nhiều khi khó mà trị được cho đến nơi đến chốn. Cuối đại vận này, biết mình yểu mệnh, vận số đã tận, ông thành tâm lập đàn “Nhương tinh cầu thọ” nhưng chịu thất bại, ngọn nến bản mệnh đã vụt tắt ở phút cuối. Phải chăng trong dặm dài chinh phạt thiên hạ, ông đã gây ra quá nhiều oán nghiệp Từ trận Xích Bích hàng trăm vạn người máu chảy đầu rơi, thây trôi đầy dòng Trường Giang, đến các chuyến bình Nam đã tàn sát, đốt cháy quân Man; mưu đống hang Thượng Phương định thiêu chết ba cha con Tư Mã Ý và hàng vận quân nhưng trời mưa như trút nên họ Tư Mã thoát nạn… Thật là, khi một triều đại mà khí số đã tận, tức một người dẫu quảng bác, thần thông như quân sư Gia Cát Lương cũng chỉ kéo dài được một năm hữu hạn, chứ không thể vượt lên khỏi lẽ tối thượng cho cõi cao xanh. Vậy nên có câu rằng “Cho hay thành bại ở đời, hơn nhau chỉ một chữ “thời” mà thôi!” Nguồn ST & Tổng hợp từ Internet Lá số tử vi Khổng Minh- Gia Cát LượngCó câu “mệnh vô chính diệu phi yểu tắc bần”, Gia Cát Lượng có Nhật Nguyệt cùng hợp chiếu mệnh nên cuộc đời từ trung vận thì tỏa sáng rực rỡ, tung hoành ngang dọc, tên tuổi lẫy lừng Quân sư KHỔNG MINH có ý phá Định Mệnh Nói đến Khổng Minh thì khắp cõi trời Đông Nam Á , và ngày nay có thể nói hầu hết mọi giới đều biết và công nhận đó là một quý nhân, một vị quân sư có bộ óc suy tính không ai có thể lường trước được. Thánh Thán và Mao Tôn Cương là hai nhà văn nổi tiếng về phê bình nhân vật của Trung Quốc đã phải chịu hạ bút là một kỳ nhân đệ nhất trong tam tuyệt thời Tam Quốc đứng trên hai người là Tào Mạnh Đức và Quan Vân Trường . Trước đây tôi đã cố đem sức mọn ra phác họa hai bức tranh của Tào Tháo và Quan Công và tự thấy quá thô sơ không tô điểm diễn tả được phần nào tư cách chính yếu của cổ nhân . Nay đối với Khổng Minh , thật tình không biết làm sao trình bày cái tài tình của người còn gấp trăm ngàn lần đặc sắc hơn . Nhưng lòng đã nguyện , cũng xin cố gắng và xin lỗi các vị huynh trưởng trong làng bỏ qua nếu có điều gì không được thấu đáo kỹ càng. Quân Sư Khổng Minh, tên thực là Gia Cát Lượng, sanh năm Tân Dậu 181 dương lịch ngày 10 tháng 4 giờ Tuất. Tuổi Tân Dậu mệnh ở Mùi, Thân ở Mão là cả hai vị trí của người không được hài lòng với ý chí của mình từ thiên định mệnh cho đến chí phấn đấu. Phải chăng ông là người sinh ra không gặp thời, đâu phải vô tài; cái tài của ông là cái tài của một tuyệt thế kỳ nhân Tả Hữu, Thai, Thanh Long với sự thông minh quán chúng Thái Dương ở Mão , Thái Âm ở Hợi đồng chiếu Mệnh Vô Chính Diệu ở Mùi. Cốt cách của ông là Thiên Lương Mộc cùng với Thái Dương là thiên chức của người lãnh phận sự phò tá cho các vị nguyên thủ quốc gia Quân Sư, Thừa Tướng. Người ta thường nói Mã ở Hợi là Mã hết đường chạy, sự thực với Khổng Minh Mộc mệnh đối với cung Hợi Thủy, Mã không phải là không đắc dụng khiến ông thành một vị ngoại trưởng có tài thuyết phục người ta cùng với Điếu Khách ở Mệnh. Thiên Mã này tài bồi nghị lực, ông càng cố gắng mẫn tiệp Mã+Linh bao nhiêu càng đưa ông lâm vào cảnh thân thể hao mòn gần đất xa trời Mệnh Mộc tiết khí Mã Linh. Thật là một tấm gương vĩ đại của một vị thừa tướng tận tụy về công cụ mà quên hẳn cái xác phàm nhân của mình. Người có Tả-Hữu nhập Mệnh là người có tài quán xuyến mọi vấn đề, thấu hiểu cả văn lẫn võ, được Nhật Nguyệt tịnh minh hội chiếu mà Mệnh lại ở thế Vô Chính Diệu là một sự mênh mông bao quát, tức là có thể nói ông thấu hiểu hết thẩy sự việc từ hữu hình đến vô hình, từ vấn đề nhân sự đến thiên sự. Từ lúc còn là thư sinh bạch diện ẩn dật ở núi Ngọa Long, ông đã phân tách trình bày đủ lẽ cái thế tàn của nhà Hậu Hán để Lưu Bị biết, rồi ra cái sức chống đỡ của thế nhân cũng chỉ được phần nào, tức là đất nước có gặp người tài ba khôn khéo cũng chỉ giữ được một phần ba. Cuộc gặp gỡ hai nhân vật này chứng minh cái thế chính trị sáng suốt của Khổng Minh bằng bộ Tả Hữu, Âm Dương, Thiên Mã nói lên hết thẩy mọi sự việc của suốt cuộc đời ông, một cái tài tuyệt luân của một vị thừa tướng, một vị quân sư điều khiển ba quân, thêm cả cái tài vô hình huyền bí là ông thấy thiên cơ, ông là một vị thánh sư về tướng số. Ông không biết sự biến chuyển của cơ trời, làm sao ông cầu được gió Đông Nam để thiêu đốt trăm vạn quân Tào ở Xích Bích . Sự cầu đảo gió này không biết ông có tài thực sự khiến thay đổi được khí trời trong cảnh trái thời tiết, hay ông tinh thông về thiên văn biết đến giờ đó có gió lạ, ông làm trò cầu đảo để khuất phục nhân tâm. Cũng như cái trò mượn 10 vạn mũi tên của Tào để bắn quân Tào Tháo . Nếu không biết ngày giờ đó có sa mù, quân Tào không giám xung trận, chỉ lấy cung tên đem ra bắn loạn xà ngầu khi có báo động, chỉ trong mấy tiếng đồng hồ ông có đủ số tên đem nạp cho Chu Du để cho quân có đủ tên bắn giết quân Tào khi lâm trận Xích Bích. Tôi tưởng hai sự việc này tỏ ra ông quá thấu hiểu thiên văn một cách quá tài tình . Ngụy Diên là một viên thượng tướng được liệt đứng liền sau Ngũ Hổ lúc mới bước chân vào ra mắt Huyền Đức xin qui hàng, Khổng Minh quát võ sĩ đem ra chém đầu . Ông nói người này có xương trái khớp ở gáy tức là tướng Hình của người phản trắc không nên để . Theo tôi nghĩ không biết Khổng Minh có tài coi tướng giỏi hay không; hay chỉ là một cách hành sự răn kẻ làm tôi không nên ở hai lòng, vì Ngụy Diên vừa mới giết chủ là Hàn Huyền đem thành Tràng Sa đến dâng cho Lưu Bị để làm món quà tiến thân. Những sự việc trên đầy là sự việc đứng về phương diện vô hình huyền bí . Còn như mưu mẹo thực hư, hư thực thật không biết đâu mà lường với Khổng Minh . Bắt Tào Tháo trên con đường nhỏ Hoa Dung là một tình tiết dàn cảnh đến Tháo là một nhà quân sự có hạng cũng phải mắc phải kể là quá tài tình . Một đám tàn quân bại trận thì không khi nào giám ngang nhiên chạy trên đường lớn là chỗ dễ bị phục kích, tất nhiên con nhà tướng phải cho binh tháo lui theo đường hẻm mà trong đường hẻm thấy khói lên, Tháo cho là nghi binh để nhử mình chạy qua đại lộ, vậy cứ tiểu lộ chạy là thoát, ai ngờ tiểu lộ nghi binh hóa ra thật có Quan vân Trường đứng chận. Tháo đành bó tay chịu trận. Những sự hành quân của Khổng Minh luôn luôn khiến đối phương không biết đâu mà tính . Những điều mà tôi muốn trình bày bằng lá số này là Khổng Minh coi nhân thế không đối thủ, mà đối thủ chính cống kia là cao xanh, là trời, thượng đế nên Khổng Minh có ý kình phá định mệnh. Biết nhà Hán đã hết vận mà còn cố công gánh vác một thời gian nữa cho Lưu Bị từ một vị hoàng thân đã trở thành một thường dân làm nghề dệt chiếu bán dép có tinh thần muốn bảo tồn đế nghiệp chiếm lại được phần ba quốc thổ. Đương giữa mùa Đông rét cóng chỉ có gió bấc lạnh lẽo làm sao có được gió Đông Nam . Ông cầu đảo mà được chẳng là tài cướp được quyền tạo hóa làm cho đại đô đốc Đông Ngô là Chu Du kinh hãi phải than rằng Người này có phép cướp quyền trời đất. Nếu để sống ắt gây tai họa cho Đông Ngô, ta phải giết ngay đi để dứt mối lo sau này. Biết mệnh mình đã hết, cố tình nhương tinh cầu thọ lấy thêm 12 năm nữa và vụ đốt hang thượng-phương định thiêu chết ba cha con Tư Mã Ý trong đó có Tư Mã Chiêu là cha của Tư Mã Viêm sau thành Tấn Võ Đế thống nhất đất nước. Trong lúc lửa cháy bốn bề, địa lôi nổ tung từng đám đất thì trời mưa như trút nước. Người đời sau đã có câu Địa lôi chống sao lại Thiên Lôi, lửa của người làm sao chống lại nước của trời. Những sự việc này Khổng Minh cố thực hiện mà không thành chẳng qua đã có định mệnh là cái vị trí của Thân ông ở Mão Tuế Phá. Ông quật khởi chống hẳn tạo hóa đi ngược lại định Mệnh không cho phép ông thỏa mãn tức là vị trí Hợi Mão Mùi của người Tỵ Dậu Sửu nếu là thường nhân dễ gây nên loạn ý làm xằng . Đem Quản Di Ngô và Khương Tử Nha ra sánh với Khổng Minh là một việc khó trình bày vì hai ông này là người gặp thời phò chúa cũng có thời là Tề Hoàn Công và Chu Văn Vương, kẻ nên nghiệp bá người thành nghiệp đế, hai ông được rạng danh với công-nghiệp sáng ngời. Trường hợp của Khổng Minh là trường hợp của Văn Trọng nhà Thương phò vua Trụ và Phạm Tăng phò Hạng Vũ, một khi đã được người lấy lễ trọng đãi mình, mình chỉ còn biết đem hết sức lực khả năng ra phục vụ và cũng không đành lìa bỏ như tướng Trần Quang Diệu quyết tâm phò vua Cảnh Thịnh nhà Tây Sơn đổ rồi rốt cuộc cùng nhà vua bị thảm hại. Có phải người đời hay trọng kẻ phù thịnh, mấy ai đã tán thưởng đến người phò suy, cũng không nên nhắm thành bại để xét tài năng của cá nhân. Gia Cát Võ Hầu là một quái kiệt đáng phàn nàn về cảnh ngộ, đáng kính về tư cách, đáng trọng về tài ba . Link lá số “Mặc thủ Thành quy” là một thành ngữ được sử dụng rất phổ biến, ngày nay thường dùng để chỉ những người xem trọng tính bảo thủ, không tìm kiếm sự đổi mới tiến bộ, cũng có ý nói người như thế sẽ bị đào thải và thay thế bằng những thứ mới. Tuy nhiên nếu nhìn lại nguồn gốc của câu thành ngữ “Mặc thủ Thành quy” này, chúng ta sẽ tìm thấy trí tuệ uyên bác của hai nhân vật rất có lai lịch trong lịch sử – Mặc Tử và Gia Cát Lượng. Thuận theo dòng chảy lớn của lịch sử, Mặc thủ thành quy’ càng ngày càng bị con người đem ra sử dụng với ý nghĩa tiêu cực. Thành ngữ “Mặc thủ Thành quy” được cấu thành từ hai điển tích “Mặc thủ” và “Thành quy”, có nội hàm phong phú, lịch sử hình thành cũng vô cùng xa xưa. “Mặc thủ” chính là “Mặc Địch chi thủ” Điển cố “Mặc thủ” bắt nguồn từ câu chuyện của Mặc Tử thời Chiến Quốc. Lúc bấy giờ, học vấn và danh tiếng của Mặc Tử vô cùng hiển hách. Ông không chỉ là nhà tư tưởng lỗi lạc mà còn là một nhà chiến lược quân sự tài ba. Chủ trương của ông là “Kiêm ái Phi công” “Kiêm ái” ý là “yêu quý lẫn nhau”, còn “Phi công” ý là “không dùng để tấn công”. Mặc Tử cũng tự nghiên cứu và truyền rộng phương pháp bảo vệ thành trì trước sự tấn công của kẻ thù. Trong cuốn Mặc Tử’ có ghi chép lại rằng Lúc bấy giờ Mặc Tử nghe tin nước Sở muốn tấn công nước Tống. Công Thâu Ban vì sinh ra tại nước Lỗ nên còn gọi là Lỗ Ban đã vì nước Sở mà chế tạo ra vân thê’ thang mây, chuyên dùng phá thành; khi làm xong sẽ tiến đánh nước Tống. Mặc Tử vì an nguy của quốc gia, quyết tâm lặn lội đường xa suốt mười ngày mười đêm từ nước Tề đến nước Sở thuyết phục Công Thâu Ban từ bỏ ý định tấn công. Sau đó, Công Thâu Ban đã dẫn ông đến yết kiến Sở vương. Mặc Tử dùng đạo lý thuyết phục và mô phỏng diễn biến cuộc chiến trước mặt Sở vương. Ông đã dùng sách lược thủ thành do bản thân mình phát minh ra để chặn đứng thế tấn công bằng thang mây của Công Thâu Ban khiến Sở vương bỏ đi ý định tiến đánh nước Tống. Lúc đó, Mặc Tử trải chiếc áo choàng của mình trên bàn tượng trưng cho đô thành nước Tống, lấy gỗ vụn và thẻ tre làm vũ khí thủ thành. Tổng cộng biến hóa chiến thuật đến chín lần, Công Thâu Ban đều bị Mặc Tử ngăn chặn, đến lúc vô kế khả thi rồi, thế mà vẫn còn rất nhiều sách lược phòng thủ của Mặc Tử chưa dùng tới. Sở vương đã bị thuyết phục và từ bỏ ý định tấn công. Đây chính là “Mặc Địch chi thủ” nổi tiếng trong lịch sử. Nhờ có Mặc thủ’ của Mặc Tử mà nhà Tống đã tránh được đại kiếp nạn chiến loạn. Vì vậy vào thời Chiến Quốc, những người dụng binh đánh trận đều e ngại khi nhắc đến “Mặc Địch chi thủ”. Còn những bên thủ giữ thành trì chỉ mong có thể đạt được “Mặc Địch chi thủ”. Người đời sau còn gọi “Mặc Địch chi thủ” là “Mặc thủ”. Tuy nhiên thuận theo dòng chảy dài của năm tháng, hầu hết mọi người đã quên đi nội hàm ban đầu của nó. Mặc Tử Ảnh Tài sản công Gia Cát Lượng dùng “Thành quy” để bảo vệ nước Thục Điển cố Thành quy’ bắt nguồn từ một câu chuyện xảy ra tại nước Thục trong thời đại Tam Quốc. Lúc bấy giờ, trước khi Thục Vương Lưu Bị qua đời, ông đã mang việc quốc gia đại sự phó thác cho Gia Cát Lượng Khổng Minh và nhờ ông phò tá Lưu Thiện. Gia Cát Lượng đã không phụ sự phó thác của Thục Vương, suốt đời cúc cung tận tụy. Gia Cát Lượng liệu sự như thần đã sớm nhìn thấy nguy cơ nhà Thục Hán lâm vào khủng hoảng sau khi Lưu Bị qua đời. May thay hai đại thần là Tưởng Uyển tự Công Diễm và Phí Y tự Văn Vĩ đã dùng các nguyên tắc trị quốc bình thiên hạ của Gia Cát Lượng để ổn định tình thế Thục Hán lúc bấy giờ. Gia Cát Lượng nhìn người sáng suốt, rất coi trọng tài năng làm yên ổn lòng dân của Tưởng Uyển. Khi còn sống ông từng tiến cử Tưởng Uyển làm rường cột quốc gia với Lưu Bị, Gia Cát Lượng nói “Tưởng Uyển xem trọng xã tắc, không phải là người chỉ có tài trong trăm dặm; ông ta lấy việc yên dân, yêu nước làm gốc, mà không lấy việc chải chuốt, sửa đổi nguyên tắc của tổ tiên làm đầu; mong Chúa công xem trọng.” Khi Gia Cát Lượng mắc trọng bệnh có dâng mật biểu lên hậu chủ Lưu Thiện “Nếu thần không may qua đời, việc xã tắc về sau nên giao cho Tưởng Uyển.” Sau khi Gia Cát Lượng mất, Tưởng Uyển đã kế thừa tất cả quy tắc “Thành quy” mà Gia Cát Lượng định ra; ông đảm nhiệm Thượng thư lệnh, Đại tướng quân, Tổng lý chính, phụ trách các vấn đề quân sự quốc gia, phò tá hậu chủ 9 năm cho đến khi qua đời. Phí Y là người kế nghiệp tiếp theo của Gia Cát Khổng Minh và Tưởng Uyển, đã dùng “Thành quy” để bảo vệ nước Thục. Phí Y hiểu biết hơn người, xử sự khiêm nhường; do đó Gia Cát Lượng cũng có sự đối đãi đặc biệt với ông. Trong “Phí Y biệt truyện” có mô tả ông như thế này “Người nhã nhặn khiêm tốn, không tích tài vật, con cái đều mặc áo vải, ăn chay, không đi xe ngồi kiệu, không khác phàm nhân”. Sau khi Gia Cát Lượng và Tưởng Uyển qua đời, Phí Y kế nhiệm làm quân sư cho hậu chủ đồng thời tiếp quản chức vụ Thượng thư lệnh của Tưởng Uyển, giữ chức Đại tướng quân. Phí Y từng đi sứ nước Ngô, các quan đại thần nước Ngô đã dùng ngôn từ vô cùng sắc bén nhắm thẳng vào Phí Y mà tranh biện. Phí Y dùng lời lẽ trung thực thuận lòng người không nhanh không chậm đáp trả khiến không vị quan nhà Ngô nào có thể làm nhục ông. Tôn Quyền thấy vậy trong lòng vô cùng bội phục. Tuy nhiên Phí Y lại là quan lại của nước Thục, Tôn Quyền vô cùng tiếc nuối “Quân thiên hạ thục đức, tất đương cổ quăng Thục triêu, khủng bất năng số lai dã”, tức là Phí Y có tư chất và phẩm hạnh cai trị thiên hạ, nhất định có thể trở thành trụ cột của nước Thục, trừ hắn ra e rằng sẽ không còn ai nữa. “Tam quốc chí” của Trần Thọ đã bình luận và ca ngợi hai vị đại thần này như sau “Tưởng Uyển chính trực có uy trọng, Phí Y hào phóng mà bác ái, tuân theo mà không sửa đổi các quy tắc “Thành quy” do Gia Cát Lượng đề xướng, giúp an định biên cương, bang giao hòa hảo”. Có thể thấy, chính sự tuân thủ theo “Mặc thủ Thành quy” này đã cho phép nhà Thục Hán duy trì mối quan hệ giao bang với các nước láng giềng và ổn định biên cương trong hơn một thập kỷ sau cái chết của Lưu Bị và Gia Cát Lượng. Sau này “Mặc thủ” và “Thành quy” được kết hợp lại thành thành ngữ “Mặc thủ Thành quy”. Con người hiện đại hầu hết đều nghĩ rằng “Mặc thủ Thành quy” có nghĩa là cố hữu vào các quy tắc cũ mà không chịu thay đổi. Trên thực tế, trí huệ của người xưa cùng những thành tựu họ để lại là điều mà hậu nhân không dễ gì đạt được. “Mặc thủ Thành quy” có thể giúp người tuân theo nó đứng vào vị thế bất khả chiến bại. Thuận theo sự phát triển của lịch sử, nội hàm của các thành ngữ cũng đã có sự thay đổi đáng kể. Chỉ bằng cách tìm hiểu nguồn gốc của chúng, chúng ta mới có thể hiểu được nhiều ý nghĩa thâm sâu ẩn chứa trong đó. Tham khảo tư liệu Ngọc Khiết biên dịchQuý vị tham khảo bản gốc từ Epoch Times Hoa ngữ Xem thêm02/11/202222/01/202216/01/2022 Theo truyện, năm 54 tuổi, Gia Cát Lượng biết mình sắp chết trong khi sự nghiệp vẫn dở dang, ấu chúa vẫn còn nhỏ tuổi chưa cáng đáng được sự nghiệp. Ông quyết định làm phép cầm sao giữ mạng để chống lại mệnh trời hòng sống thêm 1 giáp nữa. Trong khi ông lập đàn thất tinh cần phải 7 ngày yên tĩnh không ai quấy rầy. Nhưng đến ngày thứ 6, vì việc quân khẩn cấp, một tướng đã xộc vào nơi ông đang làm phép. Bởi thế việc cầm sao thất nhiên dưới góc nhìn của Tử vi học, cái căn bản nhất đối với người mệnh vô chính diệu là không thể thọ được. Các sách Tử vi lưu truyền từ xưa đều có câu “mệnh vô chính diệu phi yểu tắc bần”. Gia Cát Lượng dù có Nhật Nguyệt cùng hợp chiếu mệnh nên cuộc đời từ trung vận thì tỏa sáng rực rỡ, tung hoành ngang dọc, tên tuổi lẫy lừng. Tuy nhiên vẫn không tránh khỏi định mệnh cho người mệnh vô chính diệu là Giàu thì chết sớm mà nghèo thì thọ giả Nguyễn Phúc Vĩnh Tùng viết “Người ta cũng cho rằng, Gia Cát Lượng chết sớm là vì sát nghiệp của ông quá nặng. Ông đã dùng hỏa công đốt chết 10 vạn quân đằng giáp của Mạnh Hoạch trong cốc Hồ Lô. Rồi lại dùng hỏa công đốt chết 18 vạn quân của Tào Tháo trên sông Xích Bích. Nhưng nếu chúng ta xét điều này dưới cái nhìn của khoa Tử Vi thì dù sát nghiệp của ông nặng hay nhẹ thì tuổi thọ của ông ta cũng sẽ được bao nhiêu với cái số mệnh Vô chính diệu?”.Ở một sách về Tử vi khác là cuốn Tử vi thực hành thì chỉ ra rằng năm 54 tuổi, Gia Cát Lượng gặp đại hạn ngộ Thái Tuế và một loạt sao xấu cho nên không thể qua được mà phải chết. Cuốn sách viết “Số Gia Cát có Tả hữu đồng cung Thái dương ở mão, Thái âm ở Hợi gọi là Nhật Nguyệt tinh minh cách, nên số cực phú quý, tài năng lỗi lạc. Năm 54 tuổi, đại hạn ngộ Thái Tuế, Thiên Thương, Hóa kỵ, Đại, tiểu hao, Kình Đà nên chết”.Gia Cát Lượng là người mệnh Mộc. Có sao mệnh chủ là Văn Các, đây là sao nói về khả năng sư phạm tài ba, cộng với sao điếu khách ở cung mệnh, có thể khẳng định ông là người có tài ăn nói, tài về diễn thuyết, tuy nhiên cung của ông là Kim, khắc với mệnh là Mộc nên không thể thọ lâu được. Chính vì Mộc với Hỏa và Thủy nên Gia Cát Lượng là người sử dụng hỏa công rất cung quan của Gia Cát Lượng có sao Thái Âm miếu địa, lại có Thiên Cơ vượng địa xung chiếu cộng với các sao Quốc ấn thiên mã, điều này khẳng định Gia Cát Lượng là người có công danh cao và sớm thành danh. Dưới thời nhà Thục 221- 263, Gia Cát Lượng giữ chức quân sư, nhưng thực chất là thừa tướng, chỉ sau vua, nắm mọi quyền hành của nhà Thục Hán. Gia Cát Lượng còn là người có tài dùng binh, vì xung chiếu với cung quan lộc, ông có sao Quốc ấn, Tướng Quân, đấy là những sao thể hiện quyết đoán của những vị cung Nô Bộc của ông có sao Văn Xương, Thiên Hỷ, điều này cho thấy dưới quyền của Gia Cát Lượng có nhiều tướng lĩnh tài ba phò trợ cho ông gây dựng nghiệp lớn. Tuy nhiên, cung ở cung Nô Bộc lại có những sao xấu như Thiên Hình, Hóa Kỵ và Tuần nên ông cũng bị kẻ dưới trở cờ làm phản không tuân lệnh với như Mã Tốc, Ngụy Diên.Khổng Minh cực kỳ giỏi về thiên văn và các tướng số cũng như phong thủy, nên trong những trận đánh cụ thể, ông đã bài binh bố trận chặt chẽ để giành những thắng lợi huy hoàng ví dụ trận Xích Bích, Tân Dã, Bái Vọng…. Khi đó, theo Lưu Bị buổi ban đầu, đất và quân không có nhiều, Gia Cát Lượng đã biết xoay chuyển tình thế, vào đất Tây Thục. Dựa vào vùng hiểm trở của đất ấy tạo ra thế chân vạc của thời Tam Quốc. Tuy nhiên, trong thuật dùng binh có những trận đánh vì đại cuộc, Gia Cát Lượng đã tiêu diệt rất nhiều sinh linh. Chính vì vậy mà tuổi thọ của Gia Cát Lượng không cao được. Là người hiểu thời thế, ông biết là vận mệnh của nhà Hán đã suy nhưng vẫn một lòng phò tá Lưu Bị dựng đại nghiệp, mặc dù biết thiên thời không đứng về phía cuộc đời chinh chiến 27 năm, Gia Cát Lượng đã dùng tài trí của mình xoay đổi càn khôn, chuyển bại thành thắng, nhưng đối với vận mệnh của bản thân thì thường không xoay đổi khi mất, khi xem Thiên tướng, ông cũng biết được, vận mình đã hết nhưng vì muốn sống thêm 12 năm 1 giáp nữa để phò tự nhà Hán thống nhất thiên hạ, nên Gia Cát Lượng đã đăng đàn, xin tuổi thọ, nhưng đúng vào thời khắc cuối cùng thì ngọn nến bản mệnh bị tắt do Ngụy Diên chạy vào trướng bị gió thổi vào, vì vậy mà ông không thể sống được truyền đây là lá số của Khổng Minh Gia Cát LượngCòn đây là bài luận giải của cụ Thiên LươngỞ bài trước, việc chấm phá vài nét cơ bản trong lá số Tào Tháo như một ví dụ làm rõ hơn mối quan hệ tương hỗ giữa các yêu tố “cung” và “sao” trong môn Tử vi. Hai yếu tố này được ví như hai phần “thế” và “lực” khi lượng định, xét đoán từng cung, từng đại vận, từng nội dung của lá số. Tiếp theo, bàn về chữ “thời” và sự đắc thời hay lỡ thời, lá số của Khổng Minh 181 – 234 sau Công Nguyên lại cho chúng ta một góc nhìn khác, để biết chữ “thời” quan trọng thế nào trong cuộc đời và sự nghiệp mỗi con người. Chả thế mà có câu “Lạc nước hai xe đành bỏ phí, gặp thời một tốt cũng thành công.” Đến như quân sư Khổng Minh – một kỳ nhân có tài “hô phong hoán vũ, liệu việc như thần”, được người đời sau xếp đứng đầu trong “tam tuyệt” thời Tam Quốc, trên cả hai người là Tào Tháo và Quan Vũ, cũng không thể vượt qua được chữ “thời” – như một cửa ải mang tính định mệnh này.“Mệnh tốt không bằng Thân tốt, Thân tốt không bằng Vận tốt”Đây là câu phú mà ít ai đã quan tâm đến các môn Lý học, nhất là Tử vi lại không thuộc nằm lòng. Thật ra, không thể hạ thấp giá trị và tầm quan trọng của cung Mệnh, cung an Thân, nhưng yếu tố thời vận, tức là chữ “thời” trong lá số nhiều khi có ý nghĩa quyết định thành bại của một đời người, nhất là về hậu vận. Có những người không may có cung Mệnh, Thân bất lợi, nhưng vào tuổi trưởng thành gặp được vận tốt, thoả chí phát huy được năng lực của mình trong một bối cảnh thuận lợi, gọi là cách “Khô mộc phùng xuân” cây khô gặp được mùa xuân, với một đại vận 10 năm đắc cách cũng đã thoả nguyện lắm rồi. Trường hợp này ví như hành trình cuộc đời trên một chiếc xe yếu, công suất thấp nhưng được đi trên đường cao tốc, lại gặp mưa thuận gió hoà nên vẫn bình ổn đi đến đích. Ngược lại, Mệnh – Thân có tốt mà vận quá xấu, ví như chiếc xe to đẹp, mạnh mẽ nhưng phải đi trên con đường núi hiểm trở, nhiều mưa to bão lớn nên luôn gặp trở lực, đời nhiều thăng trầm, thành quả không có là bao; khi ấy ý chí và nỗ lực bản thân đóng vai trò quyết định. Tệ nhất là khi Mệnh, Thân đã xấu mà vận cũng xấu, khi ấy tương lại mịt mờ, suốt đời nghèo khó, gian nan vất vả, khổ nạn liên miên, sức người dù có cố làm cũng chỉ cải thiện được phần nào. Vấn đề của nhiều người là Nếu có vận tốt, liệu có biết và tận dụng được các vận hội đắc cách ấy trong cuộc đời mình, hay là để lỡ thời rồi cuối đời phải nuối tiếc, ân hận!Vậy thế nào là một “vận” tốt? Trong Tử Vi phân ra Đại vận 10 năm, niên vận 1 năm, nguyệt vận 1 tháng, nhật vận 1 ngày, thời vận 1 canh giờ. Cách thức lấy từng loại vận trong một lá số và phương pháp xét đoán vấn đề vận hạn khá phức tạp và dài dòng nên xin hẹn quý vị ở một bài chi tiết khác riêng cho vấn đề này. Ở đây xin khái lược về đoán định Đại vận; các “vận” khác về cách thức xem xét cũng không khác nhau là mấy, nhưng theo nguyên tắc “Dĩ trường chế đoản” – tức là các “vận” dài quyết định các “vận” ngắn. Đại vận tốt thì tiểu có tiểu vận có xấu cũng không quá đáng ngại; còn tiểu vận nếu rực rỡ nhưng trong một Đại vận đắc cách, như thế mới là thật sự thuận lợi và đắc thời. Khi xem xét một đại vận, cần đồng thời quan tâm đến cả 3 yếu tốThiên thời Xét cung cần xem xét trong tam hợp cung nào? Rồi xét tam hợp cung ấy so với tam hợp tuổi theo phép sinh – khắc để đưa ra nhận địnhĐịa lợi Xét âm – dương, ngũ hành của cung cần xem xét so với bản mệnh của mình Tốt nhất là được sinh nhập, nếu bình hoà thì tạm ổn, kém nhất là mệnh bị khắc nhập hay bị sinh xuất. Khi ấy thành quả nếu có thường không trọn vẹn, được việc này dễ hỏng việc khác, có khi sa sút, đổ vỡ hay phá hoà Xét tương tác các bộ sao của cung xem “vận” có hợp với các sao ở cung Mệnh, nhất là chính tinh hay không? Chú ý các sao Tứ Hoá, lục sát tin, nhất là các sao hợp hành với bản mệnh. Khi ấy, vai trò của các sao hợp nhau thành bộ đóng vai trò quyết thường, khi quyết đoán một vận tốt cần chí ít 2 trong 3 yếu tố “thiên thời, địa lợi, nhân hoà” kể trên. Nếu may được cả 3 sẽ là vận tối hảo, nhưng trường hợp này rất hiếm. Còn lỡ khi gặp vận mất cả 3 yếu tố trên, nếu khinh xuất mà vọng động thì sẽ cầm chắc thất bại. Khi ấy, chỉ nên ẩn nhẫn chờ thời, “dĩ tĩnh chế động”, lấy tiêu chí bình ổn làm đầu để chờ cho qua vận xấu, rồi mới khởi sự làm ăn, đầu tư lớn hay các quyết định quan trọng về sự nghiệp, công sư Khổng Minh – người lỡ thời với đại nghiệp “phục Hán”Khổng Minh tên thật là Gia Cát Lượng, là người có tài kinh bang tế thế, một nhà chiến lược thiên tài, xuất sắc nhất trong thời Tam Quốc, đến mức người đời sau so với một thiên tài quân sự lớn khác là Tôn Tử. Từ năm 27 tuổi theo phò Lưu Bị đến khi về trời năm 54 tuổi, ông đã tận tâm tận lực giúp họ Lưu dựng lên đại nghiệp, cùng Tôn Quyền đại thắng trận Xích Bích, khiến cho Tào Tháo tơi tả, hồn xiêu phách lạc, rồi lấy Kinh Châu, định Tây Xuyên, bình Mạnh Hoạch, dưng nước ở đất Thục. Cùng với nước Nguỵ ở phía BẮc, Ngô ở phía Đông, Lưu Bị hoàn thành đế nghiệp, tạo thành thế chân vạc chia 3 thiên hạ. Thế nhưng, trời chẳng chiều người, biết vận nhà Hán đã tận mà ông vẫn cố cưỡng cầu chống đỡ đến cùng. Sáu lần tiến binh ra Kỳ Sơn dang dở, khiến cho ông lâm vào cảnh thể chất suy nhược, sức khoẻ hao tán. Đến lần thứ 6, tại gò Ngũ Thượng, biết mệnh mình sắp hết, ông đành “Sai tả hữu vực lên chiếc xe nhỏ ra trại, đi xem hết dinh. Gió đông rát mặt, lạnh buốt đến xương, mới thở dài than rằng Từ nay ta không được ra trận nữa. Trời xanh thăm thẳm, hận này biết bao giờ nguôi!” Ông hận ai? Với nhân thế thời ấy không đối thủ, ông hận cõi cao xanh kia đã bắt mình chịu yểu mệnh, hận chữ “thời” đã không ở lại với mình, để ông có thể dốc sức hoàn thành tâm nguyện “phù Hán” một cách trọn sách sử, Khổng Minh sinh vào giờ Tuất, ngày 10/04 năm Tân Dậu năm 181 dương lịch. Lá số âm nam, mệnh Mộc, thế cục “Kim tức cục” khắc mệnh, cung mệnh ở Mùi âm Thổ cũng bị mệnh khắc, đủ thấy sự nghiệp cuộc đời ông mất phần “thiên thời” mà chủ yếu nhờ vào nỗ lực bản thân. Ông có mệnh Vô Chính Diệu, tuy đắc cách cả bộ Tả Phù – Hữu Bật nhưng không có phụ tinh hay sát tinh hợp hành mệnh làm nòng cốt, cũng không có thể “đắc tam Không” nên vướng vào trường hợp “Phi tần tắc yểu, tam vô tự” nếu không nghèo tất yểu mệnh hoặc không có con trai. Trường hợp yểu mệnh của ông chính là vì thế. Điểm đặc sắc chính là cách “Nhật Nguyệt chiếu hư không” Sao Thái Dương ở Mão, Thái Âm ở Hợi chiếu lên mệnh ở cung Mùi, khiến ông trờ thành một tuyệt thế kỳ nhân, thông minh quán chúng, biết người và tỏ cả việc trời, dám đông đến thiên cơ. Cung an Thân ở cung Mão, có Thái Dương thuộc Hoả, Thiên Lương thuộc Mộc mới chính là cốt cách của ông, là thiên chức của người đảm nhận phận sự phò tá dựng nghiệp cho các bậc Vương Đế. Nhưng vì là mệnh Mộc phải sinh Hoả Thái Dương nên sự nghiệp và danh vọng càng rực sáng thì tinh khí và thể chất của ông càng sớm hao mòn, khô kiệt. Bộ sao Bệnh, Thiên Hư, Tuế Phá đóng ở cung an Thân càng làm rõ thêm điều cung Quan Lộc ở Hợi, có sao Thái Âm Thuỷ với người mệnh Mộc là tuyệt hảo, nên chức Thừa tướng với ông là chuyện quá đỗi bình thường. Nhưng cung này có bộ Cô Thần – Quả Tú và Tang Môn, Phục Binh nênoong là người cô đơn trong các ý tưởng và mưu cơ siêu việt của mình, cũng hay bị xàm tấu, ganh ghét chống phá sau lưng. Sao Thiên Mã – tượng trưng cho tài năng, nghị lực được đóng chính cung Hợi thuỷ Mã mới thực là thần diệu Nó không còn là “cùng đồ mã” ngựa hết đường chạy mà rất đắc dụng với người mệnh Mộc như ông. Cùng với sao Điếu Khách, Thanh Long ở mệnh, Hoá Quyền ở cung Tài cung an Thân, sao Thiên Mã này giúp ông trở thành nhà hùng biện, thuyết khách với văn tài xuất chúng. Xét về vận, Đại vận 44 – 53 tuổi của ông ở cung Mão – hợp với mệnh Mộc nên ông được phần “địa lợi”, tiếc rằng mất phần “thiên thời” do tam hợp Hợi, Mão, Mùi thuộc Mộc bị phía đối nghịc là cung Dậu, trong tam hợp Kim Tỵ, Dậu, Sửu khắc chế rất nặng. Đến phần “nhân hoà”, về đại cục thì có thuận lợi, nhưng lũ bất tài và bọn tiểu nhân cũng nhiều sao Bệnh, Tuế Phá, Thiên Hư, Địa Kiếp mà người mang lá số “văn cách” như ông nhiều khi khó mà trị được cho đến nơi đến đại vận này, biết mình yểu mệnh, vận số đã tận, ông thành tâm lập đàn “Nhương tinh cầu thọ” nhưng chịu thất bại, ngọn nến bản mệnh đã vụt tắt ở phút cuối. Phải chăng trong dặm dài chinh phạt thiên hạ, ông đã gây ra quá nhiều oán nghiệp Từ trận Xích Bích hàng trăm vạn người máu chảy đầu rơi, thây trôi đầy dòng Trường Giang, đến các chuyến bình Nam đã tàn sát, đốt cháy quân Man; mưu đống hang Thượng Phương định thiêu chết ba cha con Tư Mã Ý và hàng vận quân nhưng trời mưa như trút nên họ Tư Mã thoát nạn… Thật là, khi một triều đại mà khí số đã tận, tức một người dẫu quảng bác, thần thông như quân sư Gia Cát Lương cũng chỉ kéo dài được một năm hữu hạn, chứ không thể vượt lên khỏi lẽ tối thượng cho cõi cao xanh. Vậy nên có câu rằng “Cho hay thành bại ở đời, hơn nhau chỉ một chữ “thời” mà thôi!” Trân trọng! Cảm ơn bạn đã luôn theo dõi các bài viết trên Website của chúng tôi! Quay lại "Blog tử vi" Quay lại "Trang chủ"Tử vi số mệnh Lượt xem 19792 view 6 cặp con giáp đại kỵ, hễ lấy nhau là nghèo khổ cả đời Lượt xem 11792 view Những người sinh vào giờ Sửu 1am đến 3am và những người sinh vào giờ Mùi 1pm đến 3pm đều có số Thân cư Phúc Đức. Trước khi nói đến những nét đặc biệt của mẫu người này chúng ta hãy bàn qua vài ý nghĩa căn bản của cung Phúc Đức. Trong những chương trước chúng ta có nhắc đến một nguyên tắc căn bản của khoa Tử Vi là nếu Thân cư vào cung nào thì cung đó trở thành lãnh vực chính Lượt xem 5040 view Tử vi tuần mới của 12 con giáp từ ngày 16/9 đến 22/9/2019nói rằng vận trình công danh sự nghiệp của người tuổi Tý sẽ đạt được nhiều thành công ngoài mong đợi. Bản mệnh được quý nhân nâng đỡ, có nhiều cơ hội để thể hiện năng lực của mình với cấp trên. Nếu biết tận dụng cơ hội tốt thì khả năng thăng tiến trong công việc là rất lớn. Đây là điểm tốt đẹp nhất trong tuần Lượt xem 4832 view Tử vi 12 con giáp thứ 4 ngày 25/3/2020 tuổi Tý Lượt xem 4704 view 5 con giáp có số làm đại gia nhất Lượt xem 4640 view Dưới đây là tử vi thứ Tư ngày 22/4/2020 của 12 con giáp, tuổi Dần vướng phải họa thị phi. Tuổi Tỵ đón nhận nhiều tin vui về công việc lẫn tình cảm. Lượt xem 4240 view Tử vi tài lộc tháng âm lịch này của 12 con giáp sẽ diễn biến như thế nào. Hãy cùng Tử Vi Cổ Học khám phá tử vi tài lộc của 12 con giáp bên dưới đây.

tử vi gia cát lượng