Quyền thăm nuôi con sau ly hôn được quy định tại khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 (Luật HNGĐ) quy định người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con sau khi ly hôn mà không bị ai cản trở. Như vậy, về cơ bản quyền thăm con sau ly hôn là không Ly hôn 3 năm, Dương Cẩm Lynh vẫn không quên được những điều lãng mạn chồng cũ từng làm Kỳ Dương 13/01/2021 - 14:00 (GMT+7) 0 Nữ diễn viên sinh năm 1982 giữ thái độ điềm tĩnh khi nói về cuộc hôn nhân không trọn vẹn trong quá khứ với chồng là nhà sản xuất phim. Sau 3 năm ly hôn, cô vẫn dành nhiều lời "có cánh" cho anh. Cụ thể, sẽ phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 - 300.000 đồng với người có hành vi ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc giữa cha, mẹ và con trừ trường hợp bị hạn chế theo quyết định của Tòa án. Như vậy, theo quy định này, nếu vợ cũ không cho chồng cũ thăm con sau khi hai vợ, chồng ly hôn thì có thể bị phạt tiền đến 300.000 đồng. 3. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về quyền thăm nom con sau khi ly hôn: "Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con; không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm Chồng bỏ nhà theo bồ, ngoại tình hết lần này tới lần khác trong gần 10 năm hôn nhân, nhưng chị Hoan vẫn không muốn ly hôn. Người mẹ cầu cứu vì không thể gặp con 3 tuổi. TP HCM Ngày toà cho ly hôn và trao quyền nuôi con gái gần 3 tuổi cũng là ngày cô giáo Ôn Cẩm Loan không thể gặp và biết bất cứ thông tin gì về con. Muốn con dâu tốt, mẹ chồng phải tốt trước Ly hôn 3 năm không được gặp con, tôi tìm đến trường mẫu giáo thì bật khóc phát hiện sự thật về vợ cũ Thứ tư, 13/02/2019 22:00 Bình luận Chia sẻ Giờ đây, tôi đang đứng trước cửa nhà em, liệu em có chấp nhận tôi thêm lần nữa hay không? Từng dùng 2 tỷ để ép tôi ly hôn, ai ngờ 3 năm sau chồng cũ lại quỳ xuống cầu xin điều này Hồng Ánh kết hôn vào năm 2009, chồng cô là nhà phê bình Thanh Sơn, cặp đôi có khoảng thời gian 6 năm yêu và 3 năm sống thử và cho đến hiện tại cặp đôi đã bên nhau hơn 10 năm tuy nhiên họ lại chưa có con cái, chính điều này khiến nhiều người cho rằng, đây là điểm còn thiếu trong cuộc sống hạnh phúc của người đẹp. Không chỉ đối diện với cuộc hôn nhân tan vỡ, Hương Giang còn phải chứng kiến gia đình lớn của mình gặp sóng gió: "Ở thời điểm đó, nỗi buồn của tôi không chỉ là vì gia đình nhỏ tan vỡ mà gia đình lớn cũng tan vỡ. Tôi buồn vì gia đình nhỏ tan vỡ nhưng lại tiếc nuối khi chứng kiến gia đình lớn tan vỡ sau gần 30 năm cuộc đời. Dịch Vụ Hỗ Trợ Vay Tiền Nhanh 1s. Luật Thái An là hãng luật thành lập từ buổi đầu khi thị trường dịch vụ pháp lý khởi sắc. Được thành lập năm 2007, chúng tôi đã có bề dày hơn 10 năm kinh nghiệm. Đặc biệt hôn nhân gia đình là một lĩnh vực hành nghề chính của luật sư Luật Thái An. Trong bài viết dưới đây, chúng tôi sẽ giải đáp câu hỏi của khách hàng về vấn đề chồng không cho gặp con, không nhận tiền trợ cấp nuôi con sau ly hôn. Câu hỏi của khách hàng về vấn đề không cho gặp con sau ly hôn Chào luật sư. Vợ chồng tôi chia tay nhau đã gần hai năm. Khi ly hôn, con trai tôi mới 2 tuổi, tôi không có việc làm, không có thu nhập nên nhà chồng giành quyền nuôi cháu bằng được, vì là đích tôn của gia tộc. Hàng tháng tôi ky cóp được ít tiền để cùng chồng nuôi cháu, nhưng lần nào tôi đến nhà thì đều bị xua đuổi. Chồng tôi không thèm nhận tiền của tôi, và cũng không cho tôi được gặp cháu. Tôi rất đau khổ, vì lâu rồi không được bế ẵm đứa con rứt ruột đẻ ra. Luật sư cho hỏi tôi phải làm gì ạ? Luật Thái An trả lời câu hỏi Chồng không nhận tiền cấp dưỡng nuôi con, không cho gặp con sau ly hôn thì làm thế nào ? Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi. Về vấn đề chồng bạn không cho gặp con, không nhận tiền trợ cấp cho con sau ly hôn, chúng tôi xin trả lời như dưới đây 1. Cơ sở pháp lý Cơ sở pháp lý để trả lời câu hỏi “Chồng không nhận tiền cấp dưỡng nuôi con, không cho gặp con sau ly hôn thì làm thế nào?” là các văn bản pháp luật sau đây Luật Hôn nhân và gia đình 52/2014/QH13 Nghị định 126/2014/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật hôn nhân và gia đình 2. Không cho gặp con sau ly hôn có vi phạm pháp luật không? Theo quy định tại Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, cha mẹ có nghĩa vụ và quyền được giáo dục, chăm lo và tạo điều kiện cho con học tập và không ai được cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ đó. Do con của bạn vẫn chưa thành niên nên bạn có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con kể cả khi đã ly hôn. ===>>> Xem thêm Thủ tục ly hôn nhanh nhất là bao lâu? Nghĩa vụ cung cấp tiền trợ cấp nuôi con sau khi ly hôn là nghĩa vụ bắt buộc và không được phép thay thế hay bù trừ, mặc dù mức cấp dưỡng phụ thuộc vào khả năng, điều kiện kinh tế của mỗi người. Đây là nghĩa vụ của bạn và việc nhận cấp dưỡng chính là quyền lợi của con bạn mà sau ly hôn, chồng bạn là người giám hộ, thay mặt con bạn nhận số tiền cấp dưỡng đó. Việc chồng bạn không nhận số tiền cấp dưỡng hàng tháng mà bạn gửi là việc từ chối quyền lợi chứ không phải là hành vi vi phạm pháp luật. Bên cạnh đó, căn cứ theo khoản 2 Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình 2014 cũng quy định rõ về nghĩa vụ, quyền của người trực tiếp nuôi con mà trong truờng hợp của bạn là chồng cũ của bạn “Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.”. Như vậy, việc chồng bạn cản trở việc bạn thăm nom chăm sóc con sau ly hôn là hành vi vi phạm pháp luật. Việc người vợ không nhận tiền của chồng, không cho gặp con sau ly hôn là không đúng theo quy định của pháp luật – Ảnh minh họa Internet. 3. Xử lý việc không cho gặp con sau ly hôn như thế nào? Như thông tin bạn cung cấp, khi ly hôn thì gia đình nhà chồng giành quyền nuôi con của bạn cho dù bạn không đồng ý. Theo đó, chúng tôi hiểu rằng hai vợ chồng bạn ly hôn đơn phương. Ly hôn đơn phương là một vụ án do Toà án giải quyết Toà ra phán quyết bằng một bản án, theo đó cho phép chồng bạn trực tiếp nuôi con và bạn có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, đồng thời thăm nom con. Chồng bạn từ sau ly hôn không cho bạn gặp con, thăm nom cũng như chăm sóc. Để bạn có thể gặp con thì trước hết, bạn nên gặp mặt để thoả thuận với chồng cũ của bạn nhằm giải quyết vấn đề. Nếu không thể đi đến thống nhất được với nhau thì hành vi cản trở không cho bạn gặp con là căn cứ để bạn tiến hành nhờ Toà án can thiệp, buộc chồng cũ của bạn thực hiện theo đúng quyết định của bản án. Bạn có thể viết đơn gửi Chi cục thi hành án yêu cầu thi hành bản án đã có hiệu lực của Toà án. Trong đơn bạn cần đảm bảo các nội dung chính như họ, tên, địa chỉ của bạn, chồng bạn, lý do bạn khởi kiện, chữ ký… Kèm theo đơn là các chứng cứ chứng minh yêu cầu của bạn là có cơ sở mà trong trường hợp này là việc chồng bạn cản trở bạn thăm nom con. ===>>> Xem thêm Hướng dẫn viết đơn yêu cầu thi hành án Trường hợp bạn có công ăn việc làm ổn định, có đủ điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc và dậy dỗ con trong khi chồng bạn bỏ bê, không chăm sóc con cái, bạn muốn giành quyền nuôi con, bạn có thể gửi đơn trực tiếp đến Toà án yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn. ===>>> Xem thêm Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn Trên đây là giải đáp của bộ phận chuyên tư vấn ly hôn về vấn đề không nhận tiền cấp dưỡng, không cho gặp con sau ly hôn. Để được tư vấn chi tiết hơn và được giải đáp các thắc mắc trong từng trường hợp cụ thể, hãy gọi Tổng đài tư vấn luật về hôn nhân gia đình của Luật Thái An – luật sư sẽ giải thích cặn kẽ những gì chưa thể hiện được hết trong bài viết này. 4. Dịch vụ luật sư tư vấn và giải quyết tranh chấp hôn nhân gia đình Sử dụng dịch vụ luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp hôn nhân gia đình là rất khôn ngoan vì bạn sẽ hiểu rõ hơn về quyền và lợi ích hợp pháp của mình, từ đó biết cách xử lý đúng đắn trong các mối quan hệ với chồng cũ. Trường hợp bạn muốn nhờ Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì luật sư sẽ giúp bạn. ===>>> Xem thêm Bảng giá dịch vụ ly hôn HÃY LIÊN HỆ NGAY ĐỂ ĐƯỢC TƯ VẤN VÀ SỬ DỤNG DỊCH VỤ Giới thiệu tác giả Bài viết mới nhất Tiến sỹ luật học, Luật sư Nguyễn Văn Thanh là thành viên Đoàn Luật sư TP. Hà Nội và Liên đoàn Luật sư Việt Nam. Lĩnh vực hành nghề chính * Tư vấn pháp luật Doanh nghiệp, Đầu tư, Xây dựng, Thương mại, Lao động, Dân sự, Hình sự, Đất đai, Hôn nhân và gia đình* Tố tụng và giải quyết tranh chấp Kinh doanh thương mại, Đầu tư, Xây dựng, Lao động, Bảo hiểm, Dân sự, Hình sự, Hành chính, Đất đai, Hôn nhân và gia đình Xin chào luật sư. Tôi và vợ tôi chưa ly hôn nhưng do mâu thuẫn mẹ chồng con dâu nên vợ tôi có bế con tôi về bên nhà ngoại ở. Hiện tại chúng tôi vẫn chưa ly hôn nhưng thuyết phục như thế nào vợ cũng không về. Tôi có thể đón con tôi về nhà được không? Giờ tôi muốn giành quyền nuôi con thì phải làm như thế nào? Chưa ly hôn ai được quyền nuôi con? Rất mong được luật sư hỗ trợ giải đáp thắc mắc. Tôi xin chân thành cảm ơn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi về cho Luật Sư X. Với thắc mắc của bạn chúng tôi xin được đưa ra quan điểm tư vấn như sau Căn cứ pháp lý Luật Hôn nhân và Gia đình 2014;Nghị định 144/2021/NĐ-CP. Nội dung tư vấn Trường hợp hai vợ chồng chưa có quyết định; hoặc bản án ly hôn của Toà án có hiệu lực pháp luật thì về mặt pháp lý quan hệ vợ chồng vẫn tồn tại. Do đó, vợ và chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau, phải cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên; con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động; không có tài sản để tự nuôi sống mình và mất năng lực hành vi dân sự. Đối chiếu quy định tại Điều 69 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 thì quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con cái được cụ thể như sau Thương yêu con, tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập, giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất; trí tuệ; đạo đức; trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên; con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự; hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi hộ; hoặc đại diện theo quy định của Bộ luật dân sự cho con chưa thành niên; con đã thành niên mất năng lực hành vi dân được phân biệt đối xử với con trên cơ sở giới; hoặc theo tình trạng hôn nhân của cha mẹ; không được lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên; con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự; hoặc không có khả năng lao động; không được xúi giục, ép buộc con làm việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội. Như vậy, chưa ly hôn thì cả vợ và chồng đều có quyền, nghĩa vụ nuôi, chăm sóc con cái. Chưa ly hôn ai được quyền nuôi con? Vợ chồng đã ly hôn ai được quyền nuôi con? Trường hợp vợ chồng không thể tiếp tục mối quan hệ hôn nhân; mâu thuẫn không thể giải hòa; mục đích hôn nhân không đạt được thì họ tiến hành thủ tục ly hôn tại Tòa án. Tòa án căn cứ ra quyết định hoặc bản án ly hôn chấm dứt mối quan hệ này về mặt pháp lý. Tuy nhiên, ngay cả khi vợ chồng đã ly hôn thì người vợ được Toà án giao nuôi dưỡng con thì vợ/chồng được Tòa án công nhận quyền nuôi con cũng không được cấm đối phương gặp con theo quy định tại khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình. Theo đó, sau khi ly hôn. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở; hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom; chăm sóc; nuôi dưỡng; giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Ngăn cản không cho cha mẹ gặp con thì bị xử lý như thế nào? Đối chiếu với những quy định nêu trên thì có thể thấy, khi chưa ly hôn, dù hai vợ chồng không ở cùng nhau thì vợ/chồng không có quyền ngăn cấm người còn lại chăm sóc; nuôi dưỡng con. Hay nói cách khác, bất kỳ hành vi ngăn cấm không cho vợ/chồng gặp con khi chưa ly hôn của người người còn lại là hành vi vi phạm pháp luật. Tại Điều 56 Nghị định 144/2021/NĐ-CP quy định mức xử phạt đối với hành vi vợ/chồng không cho đối phương thăm nom con cái. Theo đó, mức phạt tiền từ đồng đến đồng đối với hành vi ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con, trừ trường hợp cha mẹ bị hạn chế quyền thăm nom con theo quyết định của tòa án; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau. Vợ chồng không cho gặp con dù chưa ly hôn phải làm sao? Có thể thấy theo quy định pháp luật hiện hành, việc ngăn cản không cho vợ/chồng gặp con là hành vi bị cấm. Việc giành quyền nuôi con chỉ xảy ra khi hai vợ chồng thực hiện thủ tục ly hôn tại Tòa án. Khi hai vợ chồng chưa ly hôn thì hai người vẫn có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc nuôi dưỡng; chăm sóc con. Không ai có quyền ngăn cấm. Do đó, nếu chồng/vợ bị đối phương cấm gặp con thì trước hết hai người nên thoả thuận lại với nhau. Bởi lẽ, việc giành quyền nuôi con khi chưa ly hôn không hề có trong quy định pháp luật hiện nay. Giải thích cho vợ/chồng hiểu rõ theo quy định pháp luật hiện hành và việc ngăn cấm của họ là trái với quy định pháp luật về Hôn nhân và Gia đình. Trong trường hợp hai bên không thể thoả thuận được về vấn đề này. Người bị ngăn cấm cho gặp con có thể yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền để thực hiện việc hòa giải; cũng như yêu cầu vợ/chồng phải cho đối phương thăm nom con cái. Nếu cả hai biện pháp nêu trên đều không thực hiện được. Người vợ/chồng có thể làm đơn yêu cầu Toà án giải quyết vụ việc theo thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Có thể bạn quan tâm Làm lại khai sinh cho con sau ly hôn có được không?Ly hôn nhưng chồng không cắt hộ khẩu phải làm sao?Ly hôn thuận tình là gì? Hồ sơ, thủ tục như thế nào? Thông tin liên hệ Luật Sư X Trên đây là tư vấn của Luật Sư X về vấn đề “Chưa ly hôn ai được quyền nuôi con?“. Chúng tôi hy vọng rằng bạn có thể vận dụng các kiến thức trên để sử dụng trong công việc và cuộc sống. Để biết thêm thông tin chi tiết và nhận thêm sự tư vấn, giúp đỡ khi có nhu cầu về các vấn đề liên quan đến xin trích lục hồ sơ địa chính; hợp thức hóa lãnh sự; giấy phép bay Flycam…. của Luật Sư X, hãy liên hệ Thông tin liên hệ Luật Sư X Hồ sơ yêu cầu Tòa án giải quyết quyền nuôi con khi chưa ly hôn?Hồ sơ yêu cầu Tòa án giải quyết quyền nuôi con khi chưa ly hôn bao gồm– Đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự.– Giấy tờ nhân thân Chứng minh nhân dân; hoặc Căn cước công dân; hoặc hộ chiếu còn hạn; sổ hộ khẩu.– Giấy khai sinh của con.– Giấy tờ, chứng cứ chứng minh đã hoà giải nhưng không thành; người vợ/chồng vẫn ngăn cấm không cho đối phương gặp con. Chưa ly hôn nhưng bị cấm gặp con có thể yêu cầu cơ quan nào giải quyết?Trường hợp cả hai chưa thực hiện thủ tục ly hôn nhưng lại bị đối phương ngăn cấm việc gặp con thì có thể yêu cầu các cơ quan liên quan đến hôn nhân gia đình như cơ quan quản lý nhà nước về gia đình; trẻ em; hội liên hiệp phụ nữ… để các cơ quan này thực hiện hoà giải cũng như yêu cầu người vợ/chồng phải cho người còn lại thăm nom con cái. Toà án nào có thẩm quyền giải quyết vấn đề chưa ly hôn nhưng bị cấm gặp con?Căn cứ tại điểm a khoản 2 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định, Toà án nhân dân cấp huyện nơi người yêu cầu Toà án cư trú; làm việc có quyền yêu cầu Toà án giải quyết yêu cầu khác liên quan đến hôn nhân và gia đình. Chúng tôi đã ly hôn được 1 năm, đứa con chung được người vợ nuôi dưỡng nhưng khi đến thăm thì bị người vợ ngăn cấm không cho gặp mặt. Vậy cho hỏi trong trường hợp này tôi có thể khởi kiện vợ cản trở gặp con là sai với quy định của pháp luật để dành lại quyền nuôi con không? Điều 82 Luật Hôn nhân Gia đình quy định về Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn như sau 1, Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi. 2, Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. 3, Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.” Theo đó, bạn có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, đó là quyền của cha, mẹ khi mà không được trực tiếp nuôi con, không ai được cản trở quyền đó vì đó là quyền cơ bản của mỗi người làm cha, làm mẹ đối với con của mình. Đối với hành vi ngăn cản thăm gặp con của vợ bạn, theo quy định tại Điều 53 Nghị định 167/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính về lĩnh vực an toàn xã hội, an ninh trật tự;phòng chống tệ nạn xã hội, phòng cháy chữa cháy; phòng chống bạo lực gia đình thì vợ bạn có thể bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ đồng đến đồng. Bạn cần có thỏa thuận, yêu cầu vợ bạn không được hạn chế quyền thăm nom con của bạn. Còn đối với việc giành quyền nuôi con Tòa căn cứ nhiều yếu tố để quyết định. Để có thể được giành quyền nuôi con, bạn cần có chứng cứ chứng minh vợ bạn không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con về sức khỏe, học tập, tinh thần... và bạn có đủ điều kiện để đảm bảo được quyền lợi về mọi mặt cho con hơn chồng bạn thì Tòa sẽ căn cứ vào đó xem xét để ra phán quyết. Trân trọng! Lúc này, người bố có thể giành quyền nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con nhỏ. 2. Bố mẹ ly hôn, trẻ trên 3 tuổi nên sống với ai? Bố mẹ ly hôn con trên 3 tuổi theo ai? Câu trả lời sẽ có ngay sau đây! Theo Khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 “2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.” Quy định này ưu tiên thỏa thuận nuôi con giữa người bố và người mẹ khi ly hôn. Tòa án sẽ công nhận sự thỏa thuận này. Tuy nhiên, nếu hai bên không thể tự thỏa thuận, cần căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của trẻ để quyết định xem khi bố mẹ ly hôn, trẻ nên sống với ai. Cụ thể Đối với trẻ từ 3 –7 tuổi Quyền nuôi con sẽ do tòa án quyết định dựa trên những lợi ích về mọi mặt của bé. Người bố và người mẹ cần chứng minh khả năng bản thân có thể mang lại cuộc sống tốt hơn cho trẻ để giành được quyền nuôi dạy con. Đối với trẻ từ 7 tuổi trở lên Tòa án sẽ căn cứ vào nguyện vọng của con để phân xử. Nếu người con mong muốn sống cùng bố hoặc mẹ thì đều cần có văn bản xác nhận. II. Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con sau khi đã ly hôn Ngoài việc quan tâm đến vấn đề “khi bố mẹ ly hôn, trẻ nên sống với ai?” thì còn phải chú ý đến quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con sau khi đã ly hôn. Theo Khoản 1 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 “1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.” Quy định này nhắc nhở các bậc phụ huynh rằng, dù tình nghĩa vợ chồng đã hết nhưng mối quan hệ và trách nhiệm với con vẫn còn. Vì vậy, cả bố và mẹ cần phải đảm bảo thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ chăm sóc con sau ly hôn. 1. Quyền và nghĩa vụ của người trực tiếp nuôi dưỡng con Người giành được quyền nuôi con có trách nhiệm thực hiện những nghĩa vụ chăm sóc và giáo dục con như trước khi ly hôn, đồng thời vẫn giữ được quyền nuôi dạy con như trước đây. Cụ thể, những quyền và nghĩa vụ của người trực tiếp nuôi dưỡng con đã được quy định trong Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, bao gồm một số điều sau Nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng Điều 71 Nghĩa vụ và quyền giáo dục con Điều 72 Đại diện cho con Điều 73 Bồi thường thiệt hại do con gây ra Điều 74 Quản lý, định đoạt tài sản riêng của con Điều 76, 77 2. Quyền và nghĩa vụ của người không trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con Mặc dù không được trực tiếp chung sống và nuôi dạy con hằng ngày, nhưng người không giành được quyền nuôi con sau khi ly hôn vẫn có những quyền và nghĩa vụ riêng đối với con mình. Những điều này đã được quy định tại Điều 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Những quy định này được lập ra để đảm bảo quyền lợi được nuôi dưỡng đầy đủ của con, đồng thời bảo vệ quyền lợi cho người không trực tiếp chăm sóc trẻ. Tuy nhiên, điều luật này cũng nhấn mạnh, nếu “cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.” III. Cha mẹ có thể giành hay bị tước quyền nuôi con trong trường hợp nào? Mặc dù Tòa án là đối tượng trực tiếp phân xử và kết luận xem sau khi bố mẹ ly hôn, trẻ nên sống với ai, nhưng các bậc phụ huynh đều có thể tự giành lấy quyền nuôi con cho mình. Ngược lại, cũng cần lưu ý một số trường hợp đấng sinh thành có thể bị tước bỏ quyền nuôi con. 1. Trường hợp có thể giành quyền nuôi con Nếu như vợ chồng không thể thỏa thuận người sẽ trực tiếp chăm sóc con sau khi ly hôn, Tòa án sẽ can thiệp và đưa ra quyết định dựa vào nhiều yếu tố. Trong đó, yếu tố tiên quyết là bảo vệ quyền và lợi ích cao nhất cho người con. Lúc này, để giành được quyền nuôi con, phụ huynh cần chứng minh được khả năng mang lại cho trẻ cuộc sống tốt hơn so với đối phương về mọi mặt, bao gồm cả kinh tế, tinh thần và giáo dục. Cụ thể, một số thông tin sau cần được xác thực và cung cấp đầy đủ bằng chứng cho Tòa án để được xem xét quyền được nuôi con Thu nhập hàng tháng Để có được lợi thế nuôi con về mặt kinh tế, bố mẹ cần phải chứng minh mình có nguồn thu nhập ổn định và mức thu nhập này phải đảm bảo được nhu cầu tối thiểu cho con về ăn, ở, học tập… Chỗ ở ổn định Môi trường sống Bố và mẹ cần trả lời được câu hỏi, sau khi ly hôn, trẻ sẽ ở đâu và môi trường sống tại địa điểm đó như thế nào? Nơi đó có những tiện nghi gì cho việc học tập, di chuyển và phát triển của con? Yếu tố tinh thần Bố mẹ cần đảm bảo trẻ được phát triển toàn diện và tích cực về mặt sức khỏe tinh thần. Sức khỏe của người trực tiếp nuôi dưỡng Phụ huynh phải đủ sức khỏe để chăm sóc và nuôi dạy con. Đạo đức nhân phẩm của người trực tiếp nuôi dưỡng Đây là một trong những yếu tố chính quyết định quyền nuôi con của bố mẹ. Ngoài ra, nếu chứng minh được đối phương không đủ điều kiện về vật chất, thu nhập cũng như tinh thần ví dụ như ngoại tình, không chăm lo cho con, không tạo được môi trường tốt nhất để nuôi dạy, chăm sóc con… cũng là một lợi thế trong việc giành quyền nuôi con. 2. Trường hợp bị tước quyền nuôi con Bên cạnh những điều mà bố mẹ có thể làm để giành được quyền nuôi con trực tiếp, vẫn có những trường hợp phụ huynh bị tước quyền nuôi con. Khi đó, câu trả lời cho thắc mắc “bố mẹ ly hôn, trẻ nên sống với ai?” sẽ là người không bị mất quyền nuôi con theo quy định của pháp luật. Cụ thể, tại Khoản 1 Điều 85 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có nêu rõ những trường hợp hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên, bao gồm Người bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con với lỗi cố ý hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Người phá tán tài sản của con. Người có lối sống đồi trụy. Người xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội. Những trường hợp kể trên có thể bị tước quyền trông nom, chăm sóc, giáo dục con, quản lý tài sản riêng của con hoặc đại diện theo pháp luật cho con trong thời hạn từ 01 năm đến 05 năm. Hy vọng những thông tin trong bài viết trên đã giải đáp cho bạn những thắc mắc xoay quanh vấn đề “bố mẹ ly hôn, trẻ nên sống với ai?”. Quyền thăm con sau ly hôn được quy định tại khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định “Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.” Như vậy, về cơ bản quyền thăm con sau ly hôn là không hạn chế. Tuy nhiên, trong trường hợp người trực tiếp nuôi con có yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con và được chấp thuận thì quyền thăm con đối với người này sẽ bị hạn chế. Theo Điều 85 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, quyền thăm con bị hạn chế bằng quyết định của Toà án khi thuộc một trong các trường hợp sau Bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con với lỗi cố ý hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; Phá tán tài sản của con; Có lối sống đồi trụy; Xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội. Trong từng trường hợp cụ thể, Toà án có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của cá nhân tổ chức theo quy định tại Điều 86 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 để ra quyết định không cho cha, mẹ, trông nom, chăm sóc, quản lý tài sản của con hoặc đại diện theo pháp luật cho con tối đa 5 năm. Khi người không trực tiếp nuôi con không thuộc trường hợp bị hạn chế thăm con mà bị ngăn cản quyền thăm con thì có thể giải quyết bằng những cách sau Thỏa thuận Cần đặt ra vấn đề thỏa thuận về quyền thăm nom con khi giải quyết ly hôn giữa vợ và chồng. Các bên nên thể hiện tinh thần thiện chí trong vấn đề chăm sóc, nuôi dưỡng con cái. Khởi kiện ra Toà án Khi bị ngăn cản quyền thăm con mà không thể thỏa thuận giải quyết được thì người có quyền thăm con có thể khởi kiện yêu cầu người đang trực tiếp nuôi con phải thực hiện nghĩa vụ của mình là không được ngăn cản, cấm đoán người không trực tiếp nuôi con. Trường hợp có căn cứ chứng minh người đang trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện để nuôi con thì người không trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định tại Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình. Bất kỳ người nào có hành vi cản trở quyền thăm con của người không trực tiếp nuôi con có thể bị xử lý theo thủ tục hành chính, cụ thể là phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền theo quy định tại Điều 56 Nghị định 144/2021/NĐ-CP. Theo quy định người có hành vi ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con sẽ bị phạt tiền từ đồng đến đồng. Trên đây là thông tin tư vấn về quyền thăm con sau ly hôn, để được hỗ trợ chi tiết bạn vui lòng liên hệ Hotline 1900 6577 để được hỗ trợ sớm nhất. Trân trọng!

ly hôn 3 năm không được gặp con