Phát triển du lịch MICE nằm trong chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030 Cơ hội với MICE Các số liệu thống kê của ngành du lịch cho thấy, đến nay, số doanh nghiệp (DN) đăng ký mới và quay trở lại trong lĩnh vực du lịch, dịch vụ tăng nhanh. Việt Nam tiếp tục nằm trong số những điểm đến có tốc độ tăng trưởng cao nhất thế giới, từ 50-75%.
Để hỗ trợ phát triển và khai thông luồng khách du lịch quốc tế, nhiều quốc gia đã triển khai giấy phép, chứng nhận tiêm vaccine, hộ chiếu vaccine. Đây là chìa khóa để mở cửa ngành du lịch trong nước, đồng thời tạo điều kiện cho khách du lịch quốc tế được đi lại thuận tiện hơn trong đại dịch.
Phát triển ngành công nghiệp giải trí và du lịch huyện bàu bàng cơ hội thách thức và đề xuất chính sách development of entertainment and tourist services of bau bang district challenges, chances and policy proposal bài học quý báu cho tỉnh Bình Phước khi phải đối phó với một chiến
Nghiên cứu tập trung phân tích ngành du lịch Tiền Giang trên các mặt chủ yếu sau: thực trạng số lượng du khách và doanh thu du lịch từ các năm 2001 đến năm 2006, đánh giá tiềm năng phát triển du lịch Tiền Giang. Thông qua phân tích ma trận SWOT có thể tìm
Chuyển đổi số ngành du lịch để tăng tốc phát triển. 4.5 / 5 ( 12 bình chọn ) Tháng Bảy 10, 2022. Trong năm 2021, ngành du lịch gần như bị đình trệ mọi hoạt động do dịch Covid-19, khiến ngành gặp nhiều tổn thất nghiêm trọng. Các chuyên gia đánh giá tình hình đó sẽ kéo dài và khiến ngành du lịch thua lỗ nếu không thay đổi.
Phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn. 5 năm qua, du lịch Khánh Hòa đã có những bước phát triển vượt bậc. Tuy nhiên, để phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn cần cơ cấu lại theo hướng chú trọng chất lượng, có cơ chế chính sách ưu tiên đầu tư phát
Phát triển du lịch trở thành kinh tế mũi nhọn Phát biểu tại lễ kỷ niệm, Thủ tướng Phạm Minh Chính đánh giá cao những nỗ lực, thành tựu mà Đảng bộ, chính quyền, quân và dân tỉnh Bình Thuận đạt được trong suốt chặng đường 30 năm xây dựng, đổi mới và phát triển, góp phần thiết thực vào thành tựu chung của cả nước.
Thể chế, chính sách mở đường cho phát triển du lịch thông minh. Thể chế chính sách là yếu tố rất quan trọng để khai thông, mở đường và tạo điều kiện nền tảng, hành lang pháp lý cho phát triển du lịch thông minh. Ngày 16/01/2017, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 08-NQ/TW
Vay Tiền Trả Góp Theo Tháng Chỉ Cần Cmnd. Đại dịch Covid-19 đã làm thay đổi hoàn toàn từ nhận thức, cơ cấu thị trường, hệ thống dịch vụ, sản phẩm… của ngành Du lịch, đòi hỏi phải có những cơ chế, chính sách đủ mạnh thúc đẩy du lịch phát triển phù hợp với tình hình mới. Là ngành đầu tiên bị ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch Covid-19, Du lịch cũng là một trong những ngành có khả năng phục hồi sớm nhất, tuy nhiên, muốn phục hồi, doanh nghiệp phải tồn tại được trước đã. Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp kiến tạo các sản phẩm mới, dịch vụ mớiTrong những năm gần đây, Du lịch Việt Nam đã đạt được sự tăng trưởng vượt bậc. Năm 2019 đã đón trên 18 triệu lượt khách quốc tế, 85 triệu lượt khách nội địa, doanh thu đạt trên 32 tỉ USD, đóng góp trực tiếp 9,2% GDP và lan tỏa gián tiếp tới gần 18% GDP. Từ năm 2020 đến nay, du lịch toàn cầu chịu tác động nghiêm trọng do đại dịch Covid- 19, Du lịch Việt Nam cũng rơi vào thảm cảnh chưa từng có. Có thể nói chưa bao giờ ngành Du lịch Việt Nam đứng trước khó khăn và thử thách lớn như hiện nay, thiệt hại năm 2020 ước tính đã lên tới 23 tỉ USD, khoảng 40-60% lao động ngành du lịch bị mất việc làm hoặc cắt giảm ngày công; khoảng 95% doanh nghiệp lữ hành quốc tế ngừng hoạt động; nhiều khách sạn phải đóng cửa, công suất sử dụng phòng có thời điểm chỉ đạt từ 10-15%. Sự ngưng trệ của hoạt động du lịch do dịch bệnh đã tác động sâu rộng tới các ngành liên quan và đời sống xã hội, cụ thể và dễ thấy như hàng không, lưu trú, ăn uống. Hệ thống cơ sở lưu trú gặp nhiều khó khăn khi lượng khách giảm do ảnh hưởng Covid-19Một kết quả khảo sát của Bộ Kế hoạch và Đầu tư với doanh nghiệp cho thấy, có tới 85,7% số doanh nghiệp trên cả nước bị tác động của dịch Covid-19, trong đó ngành dịch vụ chịu tác động mạnh nhất như hàng không là 100%, dịch vụ lưu trú là 97,1%, dịch vụ ăn uống 95,5%, đại lý du lịch là 95,7%... Qua đại dịch Covid -19, càng thấy rõ vai trò và sức ảnh hưởng mang tính tác động của ngành Du lịch tới nền kinh tế là rất lớn vì là ngành kinh tế tổng hợp. Đến giờ, khi dịch Covid-19 bùng phát ở khắp nơi, nặng nề nhất là đầu tàu kinh tế, du lịch của cả nước thì ảnh hưởng tới ngành càng trầm trọng hơn. Du lịch gần như tê liệt hoàn toàn. Bao nhiêu sức người, sức của đều dồn vào chống nay, trong tình hình thị trường du lịch quốc tế chưa mở trở lại do dịch Covid-19 vẫn diễn biến phức tạp ở nhiều nơi trên thế giới, nhiều nước vẫn áp dụng chính sách kiểm soát nhập cảnh nghiêm ngặt, tỉ lệ người tiêm vắc xin còn ít… thì thị trường du lịch nội địa đang trở thành “cứu cánh” của ngành Du lịch Việt Nam. Đòi hỏi, phải có những chính sách tổng thể để lấy lại tốc độ phát triển trước đây trong giai đoạn bình thường mới và để du lịch nội địa thật sự trở thành trụ cột chính của ngành Du lịch. Vietravel Airlines là hãng hàng không lữ hành đầu tiên của Việt NamVới góc độ là một doanh nghiệp kinh doanh hàng không và lữ hành, chúng tôi đề xuất một số giải pháp vĩ mô và các kiến nghị để phát triển ngành Du lịch nói chung và khẳng định vị thế của du lịch nội địa nói tiên, cần nhận thức rõ du lịch là ngành kinh tế tổng hợp có khả năng đóng góp lớn vào phát triển kinh tế, tạo nhiều việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tạo động lực cho các ngành, lĩnh vực khác phát triển, đem lại hiệu quả nhiều mặt về kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị, đối ngoại và an ninh, quốc nội tại, ngành Du lịch cần đánh giá và định vị lại chính sách thị trường du lịch nội địa trong 5 năm tới và chiến lược phát triển Du lịch Việt Nam đến năm 2030, trong đó cần làm rõ vai trò và tầm quan trọng của thị trường khách du lịch trong nước đối với sự phát triển của Du lịch. Rõ ràng, đại dịch Covid- 19 đã tạo ra nhu cầu mới, làm thay đổi hoàn toàn thị trường du lịch trong nước. Chính phủ, Tổng cục Du lịch và các địa phương cần khuyến khích, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp kiến tạo các sản phẩm mới, dịch vụ mới, phù hợp với xu thế, nhất là sản phẩm du lịch phục vụ nhu cầu của gần 100 triệu dân trong nước. Sau dịch sẽ xuất hiện nhiều xu hướng du lịch mớiBên cạnh đó, cần thúc đẩy các kết nối vùng liên kết du lịch; thành lập các Cơ quan quản lý điểm đến để quản lý phát triển sản phẩm, xúc tiến du lịch cho vùng; đẩy mạnh công tác quảng bá trong nước. Quảng bá chung Năm Du lịch quốc gia cho vùng thay vì từng địa phương như hiện nay để tạo hiệu ứng lan tỏa lớn kích cầu cho thị trường nội cơ chế, chính sách riêng để hỗ trợ cho các doanh nghiệp hàng đầu về lữ hành tại Việt Nam, các doanh nghiệp thương hiệu quốc gia về du lịch được tiếp cận vốn vay ưu đãi, quỹ đất, ưu đãi thuế… Từ đó hình thành và củng cố vai trò của những doanh nghiệp mạnh, đủ tiềm lực đột phá, phát triển; đưa du lịch Việt Nam cạnh tranh với các quốc gia trong khu cần có những cơ chế, chính sách để phát triển gia tăng trải nghiệm, tăng thời gian lưu trú và chi tiêu của du khách bằng mô hình kinh tế ban đêm, du lịch đêm để tạo thêm những sản phẩm, dịch vụ đáp ứng nhu cầu xã hội nói chung và khách du lịch nói riêng Đánh giá đúng vai trò của thị trường khách du lịch nội địa và tái cấu trúc thị trườngCác chính sách hỗ trợ thúc đẩy du lịch phục hồi và phát triển trở lại cần ban hành nhanh, kịp thời và thực chất để triển khai ngay trong thực tế mới phát huy được hiệu quả. Đối với những vấn đề cấp bách cần triển khai ngay nếu chưa có văn bản pháp luật quy định hoặc có quy định khác thì cho thực hiện thí tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật là những yếu tố quan trọng để phát triển du lịch, vì thế, Chính phủ cần tiếp tục dành nguồn lực thích hợp từ ngân sách nhà nước đầu tư phát triển hạ tầng giao thông, nhất là tại các địa bàn trọng điểm về du lịch; nâng cao khả năng kết nối giao thông nhiều hình thức tới các khu, điểm du lịch. Bên cạnh đó, đầu tư các điểm dừng, nghỉ trên các tuyến du lịch đường bộ, tăng cường tần suất các đường bay có sẵn; giải quyết các điểm nghẽn tại các cảng hàng không lớn như Hà Nội, TPHCM. Tập trung đầu tư một số cảng biển và cảng thủy nội địa chuyên dùng tại các địa bàn có điều kiện thuận lợi phát triển du lịch đường biển và đường sông. Cải thiện hạ tầng và chất lượng dịch vụ đường sắt phục vụ khách du lịch. Cần nâng cao khả năng kết nối giao thông nhiều hình thức tới các khu, điểm du lịchTrước tiên phải cứu doanh nghiệp đãMuốn gì thì gì, các doanh nghiệp phải sống được mới có thể phục hồi và phát triển trong giai đoạn tiếp theo. Vì thế, theo tôi, Nhà nước cần tạo cơ chế và chính sách môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp và cộng đồng trong nước phát triển du lịch. Cho phép các doanh nghiệp trong ngành được khoanh nợ và tái cấu trúc các khoản vay đến hết năm 2021 để các doanh nghiệp phục hồi và tái lập hoạt động sau trợ doanh nghiệp trong ngành chuyển đổi số phù hợp với định hướng cơ cấu mới của thị trường khách du trợ doanh nghiệp khởi nghiệp kinh doanh du lịch, đặc biệt ở những địa phương vùng sâu, vùng xa. Chú trọng bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ cho các doanh nghiệp du lịch; xử lý nghiêm hành vi cạnh tranh thiếu lành mạnh. Tạo điều kiện thuận lợi để người dân trực tiếp tham gia kinh doanh và hưởng lợi từ du lịch; có chính sách hỗ trợ phát triển du lịch cộng đồng. Nâng cao vai trò của cộng đồng, xây dựng cộng đồng du lịch văn minh, thân thiện trong ứng xử với khách du lịch; phát huy vai trò của các tổ chức xã hội nghề nghiệp liên quan đến du lịch. Xây dựng cộng đồng du lịch văn minh, thân thiện trong ứng xử với khách du lịchMọi việc đều bắt đầu từ con người, Nhà nước cần phải có chính sách thu hút đầu tư cho đào tạo nguồn nhân lực du lịch; tăng cường năng lực cho các cơ sở đào tạo du lịch về cơ sở vật chất kỹ thuật, nội dung, chương trình và đội ngũ giáo viên. Đẩy mạnh xã hội hóa và hợp tác quốc tế, thu hút nguồn lực phát triển nguồn nhân lực du dạng hóa các hình thức đào tạo du lịch. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ tiên tiến trong đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực du lịch. Bên cạnh đó, cần tăng cường năng lực và hiệu quả quản lý nhà nước về du lịch. Hoàn thiện hệ thống pháp luật về du lịch và các lĩnh vực liên quan để tạo điều kiện cho phát triển du lịch; hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia trong lĩnh vực du lịch theo hướng hội nhập khu vực và quốc tế; nâng cao chất lượng công tác quy hoạch phát triển du toàn bộ máy quản lý nhà nước về du lịch theo hướng đồng bộ, chuyên nghiệp, hiệu lực và hiệu quả, đáp ứng yêu cầu quản lý liên ngành, liên vùng của hoạt động du lịch. Nâng cao năng lực, trách nhiệm và quyền hạn của Tổng cục Du lịch, Hiệp hội Du lịch. Thành lập Sở du lịch tại các địa phương có điều kiện phát triển du lịch theo nguyên tắc không tăng thêm biên chế. Tập trung xây dựng nguồn nhân lực du lịch chuyên nghiệpĐẩy nhanh hơn việc tiêm vắc xin toàn dân để tạo miễn dịch cộng đồng, mở cửa du lịch quốc tế trở lại. Xây dựng các quỹ tài chính hỗ trợ cho ngành Du lịch dưới hình thức hỗ trợ trực tiếp cho khách trong năm 2021. Điều này sẽ giúp khuyến khích và tác động kích cầu được 1 lượng khách rất lớn đi du lịch trong nước, giúp hệ thống người lao động dịch vụ phía sau có được việc làm, các doanh nghiệp duy trì được hoạt động và đội ngũ nhân sự. Gia hạn thời gian nộp thuế đến cuối năm 2021 đối với thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp. Khó khăn lớn nhất hiện nay đối với các doanh nghiệp du lịch là thiếu vốn để tái lập hoạt động kinh doanh. Trong khi đó, doanh nghiệp muốn vay tiền từ ngân hàng phải có tài sản thế chấp, trong khi doanh nghiệp du lịch lữ hành chỉ có uy tín và thương hiệu - những thứ mà không ngân hàng nào nhận thế chấp. Vì thế, cần có cơ chế mới để doanh nghiệp tiếp cận vốn vay khả thi, được vay tín cạnh các chính sách hỗ trợ về thuế, thị thực nhập cảnh, giá điện... cần chính sách đồng bộ giữa các bộ, ngành, địa phương tạo điều kiện cho người dân đi du lịch như kéo dài một số kỳ nghỉ lễ, miễn giảm các khoản thu phí tham quan, tăng cường truyền thông quảng bá, xúc tiến du lịch trong nước. Ngành Du lịch cũng cần đẩy nhanh hơn việc chuyển đổi số trong phát triển du lịch, xây dựng nền tảng số dùng chung cho toàn ngành và toàn xã hội. Trong đó, số hóa toàn bộ hệ thống ngành nghề bổ trợ du lịch từ dịch vụ vận chuyển đến lưu trú, ăn uống, điểm tham quan, di sản, kể cả cổ vật trong bảo tàng để thành tài nguyên chung để phục vụ phát triển du Văn hóa, NGUYỄN QUỐC KỲ, Chủ tịch HĐQT, Công ty Du lịch Vietravel
Sau thời gian chịu ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch Covid-19, ngành du lịch toàn cầu cuối cùng đã có dấu hiệu phục hồi, dù biến thể Omicron đang khiến nhiều quốc gia siết siết chặt các biện pháp kiểm soát biên giới. Tỷ lệ tiêm chủng tăng lên, nhu cầu bị dồn nén cũng như tiền tiết kiệm tích lũy đã thúc đẩy mạnh mẽ nhu cầu du lịch trong cả năm 2021, khi mà các biện pháp phong tỏa toàn quốc được gỡ bỏ và nhiều quốc gia nới lỏng hạn chế nhập cảnh. Dưới đây là các biểu đồ cho thấy tình hình ngành du lịch toàn cầu sau 2 năm trải qua đại dịch chưa từng có trong lịch sử. SỰ PHỤC HỒI KHÔNG ĐỒNG ĐỀU Theo một phân tích của hãng nghiên cứu và tin tức du lịch Skift, sự phục hồi của ngành du lịch diễn ra không đồng đều giữa các khu vực. Sử dụng hơn 50 chỉ số, phân tích này đã đo lường sự phục hồi du lịch tại các khu vực khác nhau so với năm 2019 – thời điểm trước khi đại dịch bùng phát. Các chỉ số này bao gồm tìm kiếm du lịch, tỷ lệ lấp đầy phòng khách sạn, doanh thu mỗi đêm phòng và tình trạng hủy phòng. “Chúng tôi phát hiện ra rằng có mối tương quan rất chặt chẽ giữa số lượng ca nhiễm Covid-19 mới và sự phục hồi du lịch”, Wouter Geerts, nhà phân tích nghiên cứu cấp cao tại Skift, cho biết. “Khi số ca nhiễm tăng lên, các quốc gia có xu hướng đóng cửa biên giới, áp dụng phong tỏa trong nước, khi đó, hoạt động du lịch ghi nhận sự suy giảm lớn và gần như ngay lập tức”. Theo ông, việc các quốc gia ở Bắc Mỹ như Mỹ, Mexico mở cửa thông thoáng hơn đã hỗ trợ lớn cho ngành du lịch của họ. Ngược lại, chiến lược “không Covid” zero Covid tại nhiều quốc gia châu Á đã gây áp lực lớn cho ngành du lịch, mãi cho tới gần đây mới có dấu hiệu giải tỏa. Trước đó, mỗi khi có ca nhiễm mới được phát hiện, nhiều quốc gia châu Á lập tức áp dụng phong tỏa và xét nghiệm trên diện rộng cùng các biện pháp phòng chống dịch nghiêm ngặt khác, nhà phân tích của Skift cho biết. Tuy nhiên, những tuần gần đây, nhiều quốc gia, bao gồm Mỹ, Canada, Anh và Singapore, đã có động thái hạn chế nhập cảnh từ các quốc gia tại miền Nam châu Phi sau khi Tổ chức Y tế Thế giới WHO gắn nhãn cho Omicron – biến thể Covid-19 được phát hiện lần đầu ở Nam Phi – là “biến thể đáng lo ngại”. Theo WHO, biến thể này hiện đã lan ra 77 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới và có thể đã có tại một số nơi khác mà chưa bị phát hiện. THIỆT HẠI CỦA CÁC HÃNG HÀNG KHÔNG Theo một báo cáo hồi tháng 10 của Hiệp hội Vận tải Hàng không Quốc tế IATA, năm 2021, các hãng hàng không sẽ nối tiếp xu hướng lỗ ròng kéo dài từ năm ngoái nhưng mức lỗ có thể giảm. IATA dự báo chỉ số khách luân chuyển RPK toàn cầu sẽ tăng trong năm nay, nhưng vẫn chỉ tương đương khoảng 40% mức trước đại dịch. RPK là một chỉ số đo lường lượng khách vận chuyển của ngành hàng không, được tính bằng cách lấy tổng số lượng khách vận chuyển có doanh thu trên các chặng bay nhân với chiều dài những chặng bay đó. Trong khi đó, hãng xếp hạng tín nhiệm Fitch Ratings đã hạ dự báo RPK toàn cầu trong năm 2021 và 2022 do lưu lượng đi lại hàng không quốc tế phục hồi chậm hơn dự kiến và các chuyến đi công tác bị hạn chế. Tổ chức này cũng cảnh báo các hãng hàng không vẫn đối mặt tương lai bất định do sự xuất hiện của biến thể Omicron. “Dù vẫn còn quá sớm để đánh giá tác động của Omicron, các làn sóng lây nhiễm mới và những phản ứng chính sách có thể dẫn tới các hạn chế đi lại và làm đình trệ hoặc tạm thời giảm hoạt động đi lại”, Fitch cho biết trong một báo cáo công bố vào tháng tháng 11. Trở lại với báo cáo của IATA, cơ quan này dự báo Bắc Mỹ sẽ là khu vực duy nhất mà các hãng hàng không ghi nhận lợi nhuận trong năm 2022. ĐẶT PHÒNG KHÁCH SẠN PHỤC HỒI CHẬM Cũng như các hãng hàng không, số lượng đơn đặt phòng của ngành khách sạn chậm phục hồi trong năm 2021. Theo dữ liệu từ Tổ chức Du lịch Thế giới của Liên hợp quốc UNWTO, sự phục hồi tại các khu vực khác nhau cũng có sự phân hóa lớn. Cụ thể, châu Âu ghi nhận sự phục hồi chậm nhất với số lượng đơn đặt phòng khách sạn từ tháng 1-10/2021 vẫn ở mức thấp hơn 70% so với cùng kỳ năm 2019. Trong khi đó, Trung Đông phục hồi mạnh mẽ nhất với lượng đơn đặt phòng trong giai đoạn này chỉ thấp hơn 13% so với cùng kỳ năm 2019. Theo ông Mike Tansey, giám đốc phụ trách mảng du lịch của hãng tư vấn Accenture, tỷ lệ tiêm vaccine cao cùng với mùa cao điểm du lịch từ châu Âu là động lực chính cho sự phục hồi du lịch của Trung Đông. Châu Âu là nguồn khách quốc tế chủ tạo của khu vực này. “Các nước Trung Đông gần như dẫn dầu thế giới về tỷ lệ tiêm vaccine ngừa Covid-19 nhờ đó khu vực này được hưởng lợi nhanh nhất từ xu hướng phục hồi du lịch”, ông Tansey nhận định với CNBC. TRIỂN VỌNG NGÀNH DU LỊCH NĂM 2022 Dù đại dịch Covid-19 vẫn chưa chấm dứt, nhiều chuyên gia du lịch tỏ ra lạc quan về sự phục hồi của ngành này. “Các chính phủ đang có những động thái rất đáng khích lệ để hồi sinh du lịch. Triển vọng năm 2022 sẽ lạc quan hơn rất nhiều”, Choo Pin Ang, Giám đốc điều hành khu vực châu Á của nền tảng du dịch trực tuyến Expedia, nhận định và dẫn ví dụ về Thái Lan, Malaysia – nơi nhiều chính sách được đưa ra để hỗ trợ phục hồi du lịch. Du khách đi qua một điểm du lịch nổi tiếng tại Milan, Italy giữa đại dịch Covid-19 - Ảnh AFP Hồi tháng 8, một khảo sát trên trang du lịch đã hỏi hơn người trưởng thành về ý định và ưu tiên du lịch của họ trong năm 2022. Theo ông Nuno Guerreiro, giám đốc khu vực châu Á Thái Bình Dương của so với cuộc khảo sát tương tự của năm ngoái, sự khác biệt lớn nhất trong kết quả khảo sát năm nay có liên quan tới làm việc từ xa. Hầu hết người được hỏi – khoảng 59% - cho biết họ sẽ lựa chọn các kỳ nghỉ ngắn ngày hơn nếu như họ có thể nghỉ làm hoàn toàn để đi nghỉ, thay vì vẫn phải làm từ xa trong kỳ nghỉ của mình. Trong khi đó, 61% cho biết sẽ đi du lịch, bất kể hình thức nào, miễn là ngân sách cho phép. Ngoài ra, 79% nói rằng du lịch sẽ trở thành một hình thức chăm sóc bản thân thiết yếu đối với họ. “Ngành du lịch vẫn chịu áp lực đáng kể khi các quốc gia phải vật lộn với các đợt bùng phát dịch hiện tại. Tuy nhiên, điểm mấu chốt là du lịch vẫn là một trong những hoạt động cơ bản trong cuộc sống của con người”, ông nhận định.
Việc đóng cửa biên giới quốc tế và tạm dừng các chuyến bay thẳng giữa Việt Nam và Australia đã ảnh hưởng tiêu cực đến các công ty khai thác du lịch của cả hai nước. Du lịch nội địa chỉ bù đắp được phần nào sự giảm sút du lịch ở cả hai nước. Thương mại Việt Nam là một thị trường du lịch đang phát triển tại Australia với ngành du lịch giải trí trị giá 231 triệu đô la Úc vào năm 2018 ở mức cao điểm. Con số này hạ xuống mức 200 triệu đô la Úc vào năm 2019, và còn giảm sâu hơn nữa bởi tác động của đại dịch vào năm 202048. Hơn công dân Việt Nam đã đến Australia trong năm 201949. Australia là một thị trường quan trọng đối với du lịch Việt Nam, bởi vì khách du lịch Australia có thời gian lưu trú tương đối dài hơn và chi tiêu cao hơn. Năm 2019, du lịch giải trí của Australia tới Việt Nam có giá trị là 1,2 tỷ đô la Úc50. Điều này cho thấy sức hút của Việt Nam trong mắt du khách Australia, đã có hơn 317,000 du khách Australia đến Việt Nam trong năm 201951. Việt Nam có hình ảnh đẹp trong mắt du khách Australia. Thu hút bởi văn hóa, ẩm thực và cảnh quan thiên nhiên, số lượng khách du lịch Australia ngày càng tang trước đại dịch COVID-19 đã thúc đẩy kế hoạch mở các đường bay thẳng, với việc hãng hàng không VietJet và Bamboo Airways công bố kế hoạch bổ sung các đường bay thẳng từ Thành phố Hồ Chí Minh tới các thành phố lớn của Australia. Đầu tư Nằm trong khu vực phát triển du lịch mạnh mẽ nhất thế giới và là thị trường hàng không quốc tế lớn nhất, Australia mang đến một môi trường an toàn và ổn định cho các nhà đầu tư du lịch. Các nhà đầu tư Việt Nam vẫn quan tâm đến cơ sở hạ tầng du lịch và ngành du lịch của Australia. Những cơ hội trong tương lai Chính phủ Việt Nam và Australia mong muốn mở lại biên giới quốc tế và nối lại du lịch quốc tế khi điều kiện an toàn cho phép. Mối liên kết mạnh mẽ giữa người dân hai nước có tiềm năng rất lớn. Ngành du lịch Việt Nam có tiềm năng tăng trưởng trong các lĩnh vực cụ thể, các lĩnh vực như du lịch sinh thái có thể tận dụng chuyên môn của Australia để có thể phát triển theo cách gìn giữ vẻ đẹp thiên nhiên đất nước đồng thời tăng cường phát triển kinh tế xã hội. Có cơ hội để tăng cường đào tạo kỹ năng dịch vụ du lịch và lữ hành nhằm đảm bảo lượng khách quay trở lại. Các nhà cung cấp giáo dục nghề của Australia có vị thế tốt để hỗ trợ đào tạo và cung cấp chứng chỉ chuyên môn cho ngành du lịch và lữ hành của Việt Nam. Ngành du lịch Ghi nhận rằng ngành du lịch quốc tế là một trong những lĩnh vực bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi COVID-19. Australia và Việt Nam nhận thấy ngành du lịch của hai nước sẽ phải đối mặt với những thách thức chuyển đổi và cơ cấu hậu COVID-19 như một hệ quả của sự thay đổi lâu dài trên toàn cầu đối với ngành du lịch và lữ hành. Xem kế hoạch thực hiện
Cuộc cách mạng công nghệ số đã và đang tác động mạnh mẽ đối với các ngành, lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, trong đó có du lịch. Xu thế công nghệ đang làm thay đổi các phương thức quản lý, kinh doanh và tiêu dùng du thời đại du lịch thông minh đã và đang thành hình. Đây là sản phẩm du lịch mới, bao gồm các dịch vụ trải nghiệm được tạo ra bằng việc ứng dụng các công nghệ tiên tiến cung cấp cho du khách.“Ở đâu, khi nào có sự ứng dụng những thành tựu của khoa học và công nghệ hiện đại vào du lịch thì ở đó, khi đó có du lịch thông minh”, ông Phạm Hà, Chủ tịch Lux Group nhận báo cáo Xu hướng du lịch Việt Nam 2021 do Outbox Consulting thực hiện, việc sử dụng công nghệ số trong du lịch đã được thế giới và Việt Nam thực hiện từ nhiều năm nay và được đẩy mạnh hơn bao giờ hết trong bối cảnh của đại dịch Covid-19. Trong năm 2021, công nghệ sẽ là yếu tố hàng đầu giúp du khách có lại tự tin khi đi du thức du lịch trực tuyến, khám phá các điểm đến trên thế giới bằng công nghệ thực tế ảo đã trở nên phổ biến hơn. Trong tương lai, trải nghiệm ảo có thể trở thành một tiêu chuẩn phải có đối với mỗi doanh nghiệp, giúp khách du lịch có cơ hội kết nối với hướng dẫn viên và cảm nhận trải nghiệm trước khi đặt dịch ông Hà, khách du lịch sử dụng internet, các tiện ích và thiết bị thông minh để tìm kiếm thông tin du lịch, tham khảo điểm đến, so sánh và lựa chọn các dịch vụ du lịch hợp lý, thực hiện các giao dịch mua tour, đặt phòng, mua vé máy bay, thanh toán trực tuyến… ngày càng có xu hướng gia tăng. Họ đang trực tiếp trở thành những vị “khách du lịch thông minh” – nhân tố quan trọng của du lịch thông bối cảnh đó, nhân sự trong ngành du lịch cũng không thể đi sau xu thế. Người làm du lịch phải có năng lực công nghệ, có khả năng thích ứng và “thông minh” hơn để phục vụ du khách tăng trải nghiệm và sự thoả mãn. “Covid đến, các doanh nghiệp và người lao động phải thay đổi như bàn cờ xoá đi chơi lại. Ai thích ứng nhanh sẽ trụ được. Không phải cá to nuốt cá bé, mà cá nhanh nuốt cá chậm”, Chủ tịch Lux Group đó, các công ty du lịch và người làm du lịch phải trở thành chuyên gia điểm đến, trải nghiệm phải cá nhân hoá, xây dựng niềm tin bằng kiến thức, dịch vụ 24h, check-in sớm, chọn phòng đẹp, chọn bàn ăn, làm những việc mà expedia hay không làm dụng lao động trong nghành du lịch từ cấp thấp tới cấp cao các lĩnh vực của nghành du lịch, ông Hà cho biết “Chúng tôi cho phép nhân viên làm việc theo ca, truy cập cloud và làm việc bằng phầm mềm. Một số nghề như hướng dẫn viên tuyến điểm sẽ mất đi, nhân sự như hướng dẫn viên phải chuyên sâu về kiến thức từng mảng, từng chủ đề ngoài kỹ năng và thái độ”.Nhiều vấn đề trong đào tạo nhân lựcTheo báo cáo của WEF về xếp hạng năng lực cạnh tranh ngành lữ hành và du lịch 2019, năng lực cạnh tranh Việt Nam tăng bốn bậc từ vị trí 67 năm 2017 lên 63/140 năm 2019. Song, chỉ số sức cạnh tranh về nguồn nhân lực và thị trường lao động vẫn còn thấp, xếp hạng 47/140 đạt 4,8 điểm; sụt giảm so với năm 2017, chỉ xếp trên Lào, Campuchia, Brunei trong các nước giá xếp hạng của WEF phản ánh khá chính xác hạn chế về lao động của du lịch Việt Nam trước bối cảnh công nghệ đang phát triển mạnh Phạm Hà, Chủ tịch Lux GroupTheo ông Hà, mỗi năm toàn ngành du lịch cần thêm gần lao động. Tuy nhiên, lượng sinh viên chuyên ngành ra trường chỉ khoảng người/năm, trong đó chỉ hơn 12% có trình độ cao đẳng, đại học trở lên. Ngoài khoảng cách về số lượng này, khoảng cách về kỹ năng trong lực lượng lao động du lịch hiện nay cũng lớn. Chỉ 42% người lao động được đào tạo chuyên ngành về du lịch, trong khi đó, 38% chuyển từ ngành khác sang và 20% không được đào tạo chính quy. Như vậy, nguồn cung nhân lực du lịch trên toàn quốc được xem là yếu và tịch Lux Group nhận định, còn nhiều vấn đề đối với câu chuyện nhân lực ngành du lịch hiện nay. Một là việc đào tạo còn tập trung quá nhiều vào lý thuyết mà thiếu thực hành, thực nghiệp. Hai là không đào tạo chuẩn theo năng lực như các nước. Ba là thiếu nhân sự cấp cao và nguồn nhân lực có chất lượng. Bốn là lạc hậu và thua luôn sân nhà khi nhân lực ASEAN sẽ có quyền làm việc tại Việt Nam ngoại trừ hướng dẫn viên theo thoả thuận nghề ASEAN. Năm là đầu ra của nhà trường chưa đáp ứng được đầu vào của doanh nghiệp, gây lãng phí nguồn vị doanh nhân này, nhân lực ngành du lịch cần được đào tạo và định hướng phát triển để đáp ứng yêu cầu mới với xu thế phát triển du lịch thông minh, công nghệ thực tế ảo, trí tuệ nhân tạo … trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Việc nghiên cứu để phát triển các ngành nghề và lĩnh vực mới thích ứng với du lịch thông minh thời trở nên cấp gian qua, ngành du lịch Việt Nam đã và đang chú trọng công tác đào tạo phát triển nguồn nhân lực, đảm bảo mục tiêu hội nhập quốc tế. Từ năm 2009, bộ trưởng du lịch các quốc gia ASEAN nhân danh Chính phủ các nước đã ký thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau. Trên cơ sở đó, giáo trình đào tạo nghề chung ASEAN cũng đã được xây dựng, liên kết chặt chẽ với khung trình độ nhiên, chính sách, cơ chế… về phối hợp giữa các chủ thể liên quan đến đào tạo, phát triển nguồn nhân lực du lịch còn chưa đầy đủ. Quy mô đào tạo chưa đủ lớn, ngành nghề đào tạo chưa đầy đủ, cơ cấu nhân lực theo ngành nghề chuyên môn chưa hợp lý, chưa đáp ứng được nhu cầu lớn trong cùng một thời điểm đối với doanh nghiệp du lịch có quy mô phân bổ cơ sở đào tạo du lịch chưa thật sự hợp lý. Tỷ lệ học sinh, sinh viên sau tốt nghiệp trở về địa phương làm việc còn thấp trong khi khu du lịch mới ở các vùng sâu, vùng xa còn thiếu nhân lực được đào tạo. Cơ chế phối hợp giữa nhà trường và doanh nghiệp vẫn chưa rõ ràng; chưa có cơ chế, chính sách cụ thể, khả thi khuyến khích các doanh nghiệp thực sự quan tâm phối hợp trong đào tạo nhân lực du độ chính sách đối với lao động ngành du lịch chưa thực sự hợp lý. Tính mùa vụ trong du lịch ảnh hưởng đến tuyển dụng, đến nhu cầu theo học lĩnh vực du lịch. Thiếu hụt nhân lực quản trị cấp caoMột vấn đề khác được ông Hà chỉ ra là du lịch Việt Nam hiện thiếu hụt nhân lực quản trị cấp cao, đặc biệt là lĩnh vực kinh doanh khách sạn, khu nghỉ dưỡng... Tại các doanh nghiệp, tập đoàn khách sạn lớn hoặc có yếu tố nước ngoài, hầu hết đội ngũ quản lý cấp trung và cấp cao đều là người nước cả nước có hơn 190 cơ sở đào tạo du lịch. Trong đó có 65 trường đại học có các khoa du lịch; 55 trường cao đăng và 71 trường trung cấp. Một số trường đại học, cao đẳng đã đầu tư xây dựng cơ sở thực hành như xưởng, khách sạn... tương đối hiện đại. Đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý đào tạo du lịch tăng về số lượng và từng bước được chuẩn thống kê của Tổng cục du lịch, toàn ngành cần lao động mỗi năm nhưng số lượng sinh viên chuyên ngành ra trường chỉ khoảng Trong đó chỉ hơn 12% có trình độ cao đẳng, đại học trở lên. Trong 1,3 triệu lao động du lịch của cả nước, chỉ có 42% được đào tạo về du lịch, 38% từ các ngành khác chuyển sang và khoảng 20% chưa qua đào tạo chính quy. Theo ông Hà, cần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch, đặc biệt có thể thích ứng trong thời đại thông qua việc đào tạo và đào tạo lại chuẩn năng lực bao gồm thái độ, kỹ năng và chuyên môn. Cần khôi phục và phát triển nhân lực du lịch đi kèm các kỹ năng đào tạo và huấn luyện cần thực hiện theo hướng đáp ứng yêu cầu thực tế của doanh nghiệp. Việc thực nghiệp nên theo tỷ lệ 50/50 giữa nhà trường và doanh nghiệp. Đồng thời, cần kết hợp mô hình ba nhà gồm nhà nước, nhà trường và nhà doanh nghiệp trong công tác đào tạo. Khuyến khích đầu tư công nghệ vào các trang thiết bị giảng dạy và thực hành tại các trường và cơ sở đào tạo nghề du lịch. “Muốn du lịch có chất lượng phải có nguồn nhân lực chất lượng cao, có năng lực, có khả năng sử dụng công nghệ và thấu hiểu khách hàng để đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp. Cần thực nghiệp tại doanh nghiệp, và liên kết ba nhà để có nguồn nhân lực có chất lượng, thực chiến và thiện chiến, đảm bảo đầu ra của nhà trường là chuẩn đầu vào của doanh nghiệp”, Chủ tịch Lux Group nói. Là đơn vị chuyên phục vụ đối tượng khách hàng sang trọng, để tạo ra những trải nghiệm chân thực và độc đáo, Lux Group đầu tư cả phần cứng và phần mềm. Phần cứng của những con tầu sang trọng của Lux Group được đầu tư rất đẹp, tinh tế và tỉ mỉ từng chi tiết, mỗi góc nhỏ là một câu chuyện. Còn phần mềm là dịch vụ và nhân sự trên du thuyền được chú trọng để tăng sự thoả mãn và đáng nhớ cho du khách. “Nhân sự trên du thuyền hiểu người chủ thực sự của họ là khách hàng, có thái độ, kiến thức và kỹ năng nâng tầm nghệ thuật. Chúng tôi sử dụng phầm mền quản lý các khâu, từ bán hàng đến vận hành để nhân viên gọi đúng tên khách, các yêu cầu nhỏ nhất được đáp ứng và làm ngạc nhiên du khách trước, trong và sau chuyến đi”, ông Hà nói.
Nguyên tắc phát triển ngành du lịch ? Vai trò của ngành du lịch ? Chính sách phát triển ngành du lịch ? Sự phát triển nhanh gọn của ngành du lịch Việt Nam đã mang lại những thành tựu to lớn trong nghành phát triển kinh tế tài chính – xã hội của nước ta và góp thêm phần đưa Việt Nam trở thành một điểm du lịch quan trọng được nhiều hành khách quốc tế biết đến. Cùng với đà tăng trưởng nhanh gọn và những hiệu quả đạt được, tầm quan trọng của sự phát triển vững chắc ngành du lịch được ghi nhận là yếu tố thiết yếu để mang lại sự thành công xuất sắc cũng như những quyền lợi trong tương lai. Trong khi phát triển du lịch bền vững là định hướng quan trọng trong chính sách của nước ta hiện nay, thì việc đưa các nguyên tắc phát triển du lịch có trách nhiệm vào hành động được coi là con đường để đạt được các mục tiêu phát triển bền vững. Trong bài viết dưới đây, chúng tôi xin chia sẻ tới bạn đọc nguyên tắc, vai trò và chính sách phát triển ngành du lịch. Tư vấn pháp luật trực tuyến miễn phí qua tổng đài 1. Nguyên tắc phát triển ngành du lịch 2. Vai trò của ngành du lịch Vai trò của du lịch trong nền kinh tế Vai trò du lịch đối với sự phát triển của xã hội 3. Chính sách phát triển ngành du lịch 1. Nguyên tắc phát triển ngành du lịch Muốn bảo vệ việc phát triển du lịch vững chắc thì việc tuân thủ những nguyên tắc của phát triển bền vững và kiên cố là điều thiết yếu, giúp ngành Du lịch phát triển bền vững và kiên cố trong tương lai, đơn cử gồm có 10 nguyên tắc sau Khai thác sử dụng nguồn lực một cách hợp lý Nguồn lực được hiểu là toàn diện và tổng thể vị trí địa lí, tài nguyên vạn vật thiên nhiên, mạng lưới hệ thống gia tài vương quốc, nguồn nhân lực, đường lối chính sách, vốn và thị trường … ở cả trong nước và ngoài nước hoàn toàn có thể khai thác được, nhằm mục đích ship hàng cho việc phát triển ngành du lịch. Để bảo vệ cho sự phát triển lâu dài hơn, khai thác Giao hàng hoạt động giải trí du lịch thì việc sử dụng, bảo tồn vững chắc tài nguyên vạn vật thiên nhiên văn hóa truyền thống xã hội là rất là thiết yếu. Ngành du lịch cần ngăn ngừa sự phá hoại tới những nguồn tài nguyên vạn vật thiên nhiên, môi trường tự nhiên, nhân văn, cạnh bên đó phát triển và thực thi chính sách môi trường tự nhiên hài hòa và hợp lý trên những nghành nghề dịch vụ của du lịch, triển khai lắp ráp những thiết bị giảm thiểu ô nhiễu không khí, nguồn nước … Ngoài ra, cần thực thi nguyên tắc tôn trọng những nhu yếu của người dân địa phương cũng như bảo vệ và ủng hộ việc thừa kế di sản văn hóa truyền thống dân tộc bản địa trên quốc tế, triển khai tiến hành những hoạt động giải trí du lịch có nghĩa vụ và trách nhiệm và đạo đức và nhất quyết tiêu diệt những hoạt động giải trí du lịch trái thuần phong mỹ tục. Giảm thiểu sự tiêu thụ quá mức tài nguyên thiên nhiên Việc tiêu thụ tài nguyên vạn vật thiên nhiên ở mức vừa đủ ngoài việc giúp cho tài nguyên vạn vật thiên nhiên có thời hạn hồi sinh thì còn giúp giảm chất thải ra môi trường tự nhiên từ đó sẽ tránh nhiều phí tổn cho việc hồi sinh môi trường tự nhiên, góp thêm phần tăng chất lượng của du lịch . Xem thêm Phát triển du lịch bền vững là gì? Giải pháp phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam? Theo đó, ngành du lịch cần phải khuyến khích giảm thiểu việc tiêu thụ không đúng đắn của hành khách, ưu tiên việc sử dụng những nguồn lực địa phương, giảm rác thải và bảo vệ rác thải bảo đảm an toàn do hành khách xả ra. Bên cạnh đó cần tương hỗ, góp vốn đầu tư hạ tầng cho địa phương, những dự án Bất Động Sản tái chế rác thải, có nghĩa vụ và trách nhiệm phục sinh tổn thất qua công tác làm việc quy hoạch du lịch tạo ra. Duy trì tính đa dạng thiên nhiên, xã hội và nhân văn Cần phải trân trọng tính phong phú của vạn vật thiên nhiên, xã hội và môi trường tự nhiên của điểm du lịch, bảo vệ nhịp độ, quy mô và mô hình phát triển du lịch, để bảo vệ tính phong phú của văn hóa truyền thống địa phương. Đồng thời phòng ngừa tôn trọng sức chứa của mỗi vùng, giám sát ngặt nghèo những hoạt động giải trí du lịch so với động thực vật, thực thi việc lồng ghép những hoạt động giải trí du lịch vào những hoạt động giải trí của hội đồng dân cư và ngăn ngừa sự sửa chữa thay thế những ngành nghề truyền thống lịch sử truyền kiếp bằng những ngành nghề văn minh, khuyến khích những đặc tính riêng của từng vùng, từng miền. Ngoiaf ra, cũng cần phát triển du lịch tương thích với văn hóa truyền thống địa phương, nhu yếu của sự phát triển nhằm mục đích bảo vệ quy mô, quá trình của những mô hình du lịch. Phát triển du lịch phải đặt trong quy hoạch tổng thể của kinh tế xã hội Sự sống sót lâu bền hơn của ngành du lịch phải nằm trong khuôn khổ kế hoạch của vương quốc, vùng, địa phương về kinh tế tài chính – xã hội. Chính vì thế, để bảo vệ sự phát triển vững chắc, ngành du lịch cần phải chăm sóc đến nhu yếu của người dân và cả hành khách, trong việc quy hoạch du lịch cần phải thống nhất về những mặt kinh tế tài chính – xã hội, thiên nhiên và môi trường và tôn trọng kế hoạch của vương quốc, vùng, chủ quyền lãnh thổ, địa phương, thực thi phát triển ngành du lịch lồng ghép trong kế hoạch chung, lấy kế hoạch tổng thể và toàn diện làm xu thế phát triển cho toàn ngành. Phát triển du lịch phải hỗ trợ kinh tế cho địa phương Phát triển vững chắc ngành du lịch không phải chỉ riêng nó mà còn kéo theo nhiều nghành nghề dịch vụ khác, trong nghành du lịch, việc tương hỗ cho những ngành nghề khác không chỉ những doanh nghiệp lớn mà những doanh nghiệp vừa và nhỏ là những đơn vị chức năng được tương hỗ nhiều, dẫn đến tương hỗ kinh tế tài chính cho địa phương. Hay nói cách khác, ngành du lịch làm nền cho sự đa dạng hóa kinh tế tài chính bằng hoạt động giải trí trong nhiều nghành nghề dịch vụ, việc góp vốn đầu tư cho du lịch không chỉ là việc góp vốn đầu tư cho loại sản phẩm du lịch, khu dự án Bất Động Sản, mà còn là sự góp vốn đầu tư cho sơ sở hạ tầng du lịch, hạ tầng địa phương nhằm mục đích mang lại quyền lợi cho nhiều thành phần kinh tế tài chính. Thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phương vào phát triển bền vững du lịch Xem thêm Tham quan du lịch là gì? Các loại hình tham quan du lịch? Việc tham gia của hội đồng dân cư địa phương là một tác nhân quan trọng gớp phần bảo vệ cho việc phát triển du lịch bền vững và kiên cố. Khi hội đồng dân cư địa phương được tham gia vào quy trình phát triển du lịch, họ sẽ tạo ra nhiều điều kiện kèm theo thuận tiện cho du lịch, vì họ có nghĩa vụ và trách nhiệm với chính tài nguyên và môi trường tự nhiên khu vực. Do đó, cơ quan quản trị du lịch phải tôn trọng nhu yếu và nguyện vọng của hội đồng dân cư địa phương, phải ủng hộ quan điểm hội đồng dân cư địa phương trong phát triển của chính họ, khuyến khích họ tham gia vào những dự án Bất Động Sản, những hoạt động giải trí cho phát triển du lịch. Ngoài ra, cần ủng hộ những doanh nghiệp tham gia những dự án Bất Động Sản, xử lý những khó khăn vất vả cho dân cư địa phương và hợp tác với người dân nhằm mục đích cung ứng sản phẩm & hàng hóa và dịch vụ của chính họ cho hành khách từ đó góp thêm phần vào phát triển du lịch của địa phương. Lấy ý kiến của nhân dân và các đối tượng có liên quan Việc trao đổi giữa ngành Du lịch, hội đồng, cơ quan có thẩm quyền tương quan rất thiết yếu nhằm mục đích giải tỏa những xích míc trong quy trình thực thi những bước của phát triển du lịch. Thực hiện lồng ghép những quyền lợi của những bên nhằm mục đích mục tiêu hài hòa về quyền lợi trong quy trình thực thi dựa trên việc tìm hiểu thêm quan điểm của những bên tương quan và hội đồng dân cư, những tổ chức triển khai trong và ngoài nước, phi chính phủ, cơ quan chính phủ với những quan điểm cho dự án Bất Động Sản, cho khu công trình phát triển du lịch bền vững và kiên cố. Chú trọng công tác đào tạo nguồn nhân lực Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là trách nhiệm vô cùng thiết yếu trong việc phát triển du lịch. Một lực lượng lao động được huấn luyện và đào tạo kỹ năng và kiến thức thành thạo sẽ mang lại quyền lợi về kinh tế tài chính cho ngành và góp thêm phần nâng cao chất lượng mẫu sản phẩm du lịch. Để triển khai điều đó, cần chú ý quan tâm về nguồn nhân lực địa phương trong khâu tuyển dụng, cần chú trọng trong đào tạo và giảng dạy trình độ, lồng ghép những yếu tố thiên nhiên và môi trường, xã hội trong công tác làm việc huấn luyện và đào tạo, nâng cao nhận thức cho cán bộ, học viên, người dân tham gia vào hoạt động giải trí du lịch về truyền thống văn hóa truyền thống, sự độc lạ mẫu sản phẩm văn hóa truyền thống tại địa phương mình. Ngoài ra, cần tương hỗ cho những cơ sở giáo dục bằng doanh thu san sẻ từ nghành nghề dịch vụ du lịch. Tiếp thị ngành Du lịch một cách có trách nhiệm Xem thêm Khách đoàn là gì? Có nên tham gia tour du lịch theo đoàn? Cần tận dụng sức mạnh to lớn từ internet, những công cụ tìm kiếm, sự bùng nổ của mạng xã hội và những thiết bị mưu trí để thực thi tiếp thị, cung ứng những thông tin rất đầy đủ cho hành khách qua những phương tiện đi lại thông tin báo, đài, internet …. Tuy nhiên, thông tin tiếp thị về du lịch cần phải được sàng lọc và kiểm duyệt trước khi đưa ra công chúng nhằm mục đích giúp tương tác với hành khách trên toàn thế giới được hiệu suất cao hơn. Coi trọng công tác nghiên cứu khoa học ngành Du lịch Các thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến về du lịch trong thời hạn qua đã trở thành những nền tảng khoa học quan trọng với tính ứng dụng vào thực tiễn cao, góp thêm phần phát triển ngành công nghiệp du lịch, giúp du lịch trở thành một ngành kinh tế tài chính chuyên nghiệp, văn minh và vững chắc. Hoạt động nghiên cứu và điều tra khoa học đóng vai trò rất quan trọng trong việc kiến thiết xây dựng kế hoạch, quy hoạch, kế hoạch, giảng dạy và thực thi hoạt động giải trí phát triển du lịch vững chắc. 2. Vai trò của ngành du lịch Du lịch giúp cho con người nâng cao hiểu biết, nâng cao chất lượng những mối quan hệ xã hội từ đó giúp mang lại đời sống niềm hạnh phúc và thành công xuất sắc hơn. Vai trò của du lịch trong nền kinh tế Ở nhiều Quốc gia, ngành du lịch góp phần một phần đáng kể trong tổng thu nhập hàng năm, đặc biệt quan trọng tại Việt Nam du lịch được nhìn nhận là một trong 3 ngành kinh tế tài chính mũi nhọn được nhà nước chú trọng góp vốn đầu tư về hạ tầng và ngành du lịch cũng không ngừng phát triển, góp phần rất lớn và nền kinh tế tài chính quốc gia. Du lịch phát triển cũng góp thêm phần tương hỗ những ngành giao thông vận tải vật tại, bưu chính viễn thông, bảo hiểm, dịch vụ kinh tế tài chính, dịch vụ siêu thị nhà hàng và nghỉ ngơi. Ngoài ra ngành du lịch phát triển còn mang lại thị trường tiêu thụ văn hóa truyền thống to lớn góp thêm phần thôi thúc tăng trưởng nhanh tổng sản phẩm kinh tế tài chính quốc dân. Vai trò du lịch đối với sự phát triển của xã hội Ở những vùng cao, ngành du lịch phát triển đã tạo ra nhiều thời cơ việc làm cho người dân nông thôn, tạo ra những chuyển biến tích cực xã hội, nâng cao mức sống. Ngành du lịch đã giúp tạo thời cơ việc làm lớn cho người lao động, đặc biệt quan trọng là lao động nữ. Ngành du lịch góp thêm phần làm giảm quy trình đô thị hoá, cân đối lại sự phân bổ dân cư, hạ tầng từ đô thị về nông thôn, từ đó giảm gánh nặng những xấu đi do đô thị hoá gây ra. Đồng thời ngành du dịch cũng là phương pháp tiếp thị văn hoá, phong tục tập quán hiệu suất cao của con người Việt Nam đến bè bạn quốc tế . Xem thêm Du lịch nội địa là gì? Vai trò và lợi ích của du lịch nội địa? 3. Chính sách phát triển ngành du lịch Chính sách phát triển ngành du lịch của Nhà nước ta đã được pháp luật rõ trong Luật du lịch 2017, đơn cử “Điều 5. Chính sách phát triển du lịch 1. Nhà nước có chính sách kêu gọi mọi nguồn lực cho phát triển du lịch để bảo vệ du lịch trở thành ngành kinh tế tài chính mũi nhọn của quốc gia. 2. Tổ chức, cá thể kinh doanh thương mại du lịch được hưởng mức tặng thêm, tương hỗ góp vốn đầu tư cao nhất khi Nhà nước phát hành, vận dụng những chính sách về khuyễn mãi thêm và tương hỗ góp vốn đầu tư. 3. Nhà nước ưu tiên sắp xếp kinh phí đầu tư cho những hoạt động giải trí sau đây a Điều tra, nhìn nhận, bảo vệ, tôn tạo, phát triển giá trị tài nguyên du lịch ; b Lập quy hoạch về du lịch ; c Xúc tiến du lịch, kiến thiết xây dựng tên thương hiệu du lịch vương quốc, địa phương ; d Xây dựng kiến trúc ship hàng phát triển du lịch. 4. Nhà nước có chính sách khuyến khích, tương hỗ cho những hoạt động giải trí sau đây a Đầu tư phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật, dịch vụ du lịch chất lượng cao ; b Nghiên cứu, khuynh hướng phát triển mẫu sản phẩm du lịch ; c Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực du lịch ; d Đầu tư phát triển mẫu sản phẩm du lịch mới có ảnh hưởng tác động tích cực tới thiên nhiên và môi trường, lôi cuốn sự tham gia của hội đồng dân cư ; góp vốn đầu tư phát triển mẫu sản phẩm du lịch biển, hòn đảo, du lịch sinh thái xanh, du lịch hội đồng, du lịch văn hóa truyền thống và mẫu sản phẩm du lịch đặc trưng khác ; đ Ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến tân tiến Giao hàng quản trị và phát triển du lịch ; e Phát triển du lịch tại nơi có tiềm năng du lịch; sử dụng nhân lực du lịch tại địa phương; g Đầu tư hình thành khu dịch vụ du lịch phức tạp, có quy mô lớn ; mạng lưới hệ thống shop miễn thuế, TT shopping Giao hàng khách du lịch. 5. Nhà nước có chính sách tạo điều kiện kèm theo thuận tiện về đi lại, cư trú, thủ tục xuất cảnh, nhập cư, hải quan, hoàn thuế giá trị ngày càng tăng và bảo vệ quyền, quyền lợi hợp pháp khác cho khách du lịch. ” Theo đó, Nhà nước Việt Nam chú trọng phát triển ngành du lịch dựa trên 5 chính sách chính gồm có chính sách kêu gọi mọi nguồn lực cho phát triển du lịch để bảo vệ du lịch trở thành ngành kinh tế tài chính mũi nhọn của quốc gia ; chính sách về khuyến mại và tương hỗ góp vốn đầu tư tổ chức triển khai, cá thể kinh doanh thương mại du lịch ; chính sách ưu tiên về kinh phí đầu tư cho những hoạt động giải trí tìm hiểu, nhìn nhận, bảo vệ, tôn tạo, phát triển giá trị tài nguyên du lịch, lập quy hoạch về du lịc ; chính sách khuyến khích, tương hỗ cho những hoạt động giải trí góp vốn đầu tư phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật, dịch vụ du lịch chất lượng cao, điều tra và nghiên cứu, xu thế phát triển loại sản phẩm du lịch, đào tạo và giảng dạy và phát triển nguồn nhân lực du lịch, … và chính sách tạo điều kiện kèm theo thuận tiện về đi lại, cư trú, thủ tục xuất cảnh, nhập cư, hải quan, hoàn thuế giá trị ngày càng tăng và bảo vệ quyền, quyền lợi hợp pháp khác cho khách du lịch.
phát triển ngành du lịch cho phép