GIẢ TỪ CÕI ĐỜI 1. Thương tiếc vô vàn: "Khi nghe tin Phật đã nhập niết-bàn, dân tộc Malla tại Câu-thi-la, Tăng, Ni, Phật tử, tất cả mọi người tâm tư khổ não, đau đớn sầu muộn, kẻ thì khóc than với đầu tóc rối, người thì than thân, bổ nhoài dưới đất. Với vẻ ngoài luôn chỉn chu và thanh lịch, Nữ hoàng Anh Elizabeth II chắc chắn là một trong những tượng đài của phong cách Hoàng gia. Đơn giản mà sang trọng, nổi bật đầy quyền lực, Nữ hoàng đã để lại cho hậu thế những khoảnh khắc thời trang mang tính biểu tượng vĩnh Siddhartha (Tất Đạt Đa) Tác giả: Hermann Hesse. Nhà xuất bản Công Ty Văn Hoá Truyền Thông Nhã Nam & Nhà xuất bản Văn Học ấn hành. Hoàng tử lai - J.K.Rowling - Tiểu Thuyết; Thể Loại. Hạt Giống Tâm Hồn 215; Kỹ Năng Cuộc Sống 151; Thường bất đồng ý kiến của đa số. Quan niệm của bạn thường có tính cách triết lý và trực giác. Ít khi a dua hay bắt chước thời trang. Tự lập luận, tự quyết, không chịu theo ý kiến của người khác. Thích hoàn toàn, có tinh thần tự chí, tự phê bình rất nghiêm khắc. Tự đòi hỏi mình những tiêu chuẩn có khi quá cao với khả năng. Cơ sở vật chất và thiết bị hiện đại. Hoàng Vũ Center là trung tâm sửa chữa Iphone, Ipad, Macbook, Laptop, Surface, Ép kính lâu năm tại Hồ Chí Minh. Chúng tôi là đơn vị tiên phong trong lĩnh vực sửa chữa điện tử tại Sài Gòn. Tất cả trang thiết bị của chúng tôi được đầu Gạch, đá… từ trên bức tường đổ xuống đè trúng nhiều công nhân đang xây bên dưới. Vụ việc đã khiến 11 người bị thương, được đưa đến bệnh viện cấp cứu. Đến 22 giờ tối cùng ngày, 5 người trong số đó đã tử vong, 6 người bị thương còn lại vẫn đang được cấp cứu tại bệnh viện. Tất cả nạn nhân này đều ở thị xã An Nhơn và huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Tôn Tử, tên Vũ (Võ), tự Trường Khanh, không rõ năm sinh năm mất. Sống cùng thời với Khổng Tử (cuối thời Xuân Thu: năm 551-479 trước Công Nguyên), người Lạc An, nước Tề (nay là huyện Huệ Dân, tỉnh Sơn Đông), được coi là nhà lý luận quân sự nổi bật nhất thời cổ đại Trung Quốc. Binh pháp Tôn tử là tác "Hoàng tử George giờ ra dáng một người anh lớn quá rồi, cậu bé giờ đã có tới 2 người em nên có hành động như 1 ông anh thực thụ", một người bình luận. "Cả 2 Hoàng tử và công chúa đều thực sự dễ thương quá". Vay Tiền Trả Góp 24 Tháng. Siddhārtha Gautama tiếng Phạn सिद्धार्थ गौतम, chữ Hán 悉達多瞿曇, phiên âm Hán-Việt Tất-đạt-đa Cồ-đàm hay Gautama Buddha, còn được gọi là Phật Shakyamuni tiếng Phạn शाक्यमुनि, chữ Hán 釋迦牟尼, phiên âm Hán-Việt Thích-ca Mâu-ni, trong khẩu ngữ thường gọi là Phật, Bụt, Phật Tổ, Đức Thế Tôn hoặc Đức Phật là nhà tu hành, nhà truyền giáo, nhà thuyết giảng, nhà triết học và đạo sư sống ở Ấn Độ cổ đại, người sáng lập Phật giáo. Sinh ra ở vùng đất ngày nay là Nepal nhưng khoảng thời gian quan trọng nhất của Tất-đạt-đa gắn liền với các khu vực mà ngày nay là Ấn Độ khi ông đi xuống phía Đông và Nam để truyền đạo. Tín đồ Phật giáo xem ông là người đầu tiên hoàn toàn giác ngộ để đạt niết bàn thành Phật. Một phần của loại bài vềPhật giáo Lịch sử Niên đại phát triển Thích-ca Mâu-ni Thập đại đệ tử Phật giáo Nguyên thủy Đại hội kết tập Bộ phái Phật giáo Phật giáo Hy Lạp hóa Phật giáo qua Con đường tơ lụa Phật giáo suy tàn ở Ấn Độ Phong trào Phật giáo hiện đại Khái niệm Pháp Pháp luân Trung đạo Tứ diệu đế Bát chính đạo Ngũ uẩn Vô thường Khổ Vô ngã Duyên khởi Giới Tính Không Nghiệp Tái sinh Luân hồi Vũ trụ học Phật giáo Kinh điển Kinh văn sơ kỳ Kinh văn Đại thừa Tam tạng Kinh điển Pāli Kinh văn Tạng ngữ Kinh văn Hán ngữ Tam học Tam bảo Quy y Giải thoát Ngũ giới Ba-la-mật-đa Thiền Tư tưởng Pháp cúng Công đức Niệm Chánh niệm Bát-nhã Tứ vô lượng Tam thập thất bồ-đề phần Tu học Cư sĩ Tụng kinh Hành hương Trai thực Niết-bàn Giác ngộ Tứ thánh quả A-la-hán Duyên giác Bồ tát Phật Tông phái Thượng tọa bộ Đại thừa Kim cương thừa Thiền tông Tịnh độ tông Ở các nước Ấn Độ Sri Lanka Campuchia Thái Lan Myanmar Lào Trung Quốc Việt Nam Đài Loan Nhật Bản Hàn Quốc Triều Tiên Malaysia Tây Tạng Bhutan Mông Cổ Khác Trung Á, Châu Âu, Châu Phi, Châu Mỹ, Châu Đại dương, Hoa Kỳ, Nga, Nepal, Tân Cương, Indonesia, Brunei ... Cổng thông tin Phật giáoxts Theo kinh Phật cùng sử liệu thì ông vốn xuất thân là một thái tử thuộc vương tộc Gautama của tiểu quốc Shakya ở vùng Kapilavastu. Tuy nhiên, ông sớm từ bỏ cuộc sống vinh hoa phú quý để lên đường đi tìm chánh đạo. Sau 6 năm tu đạo, ông đạt được giác ngộ chính pháp vào năm 35 tuổi và dành tiếp 45 năm còn lại cho việc truyền bá, giảng dạy giáo lý Phật pháp trên khắp những khu vực ở Đông và Nam tiểu lục địa Ấn Độ.[4][5] Tất-đạt-đa đề xướng con đường Trung đạo - tức vừa từ bỏ đời sống xa hoa nhưng cũng không đi theo lối tu hành ép xác khổ hạnh vốn rất thịnh hành trong các học thuyết tôn giáo Ấn Độ thời đó.[6] Giáo pháp của ông đặt nền tảng cho sự hình thành và phát triển của giáo lý đạo Phật ngày nay.[7][5] Ông được các Phật tử coi là một bậc đạo sư, người giác ngộ tự giải thoát bản thân khỏi quy luật sinh tử luân hồi đồng thời hiểu rõ được bản chất của mọi sự vật sự việc. Chi tiết về cuộc đời và sự nghiệp của ông được nhiều thế hệ học trò ghi nhớ và tổng hợp lại sau khi Đức Phật Thích-ca Mâu-ni nhập Niết-bàn. Hàng loạt bản kinh ghi lại lời dạy của ông được lưu giữ qua nhiều thế hệ và dần bắt đầu được viết thành sách 200 năm sau đó. Chí nguyện đã chín muồi, vào ngày trăng tròn tháng hai sau một buổi yến tiệc linh đình trong hoàng cung ngài đã cùng với người hầu thân cận Xa-nặc, với con ngựa Kiền-trắc âm thầm từ biệt cha già, vợ con, người thân rời khỏi kinh thành Vài ý nghĩ nhỏ về đức dũng của người Phật tửĐức Phật Thích Ca xuất hiện trên cõi ta-bà này đã hai mươi sáu thế kỷ và giáo pháp của ngài giờ đây đã lan tỏa khắp cùng năm châu bốn biển. Nếu nói ngài là một vị giáo chủ của một tôn giáo thì đúng là ngài là một vị giáo chủ đặc biệt nhất không giống như bất kỳ vị giáo chủ nào của các tôn giáo khác trên toàn cầu. Trước hết điều đặc biệt nhất là ngài là một giáo chủ nhưng xuất hiện ở trần gian trong hình hài một con người như hàng triệu triệu con người khác trên hành tinh. Điều tiếp theo là hình như chưa có vị giáo chủ một tôn giáo nào mà đặt vị trí của tín đồ ngang hàng với mình như Đức Phật Phật và chúng sanh cùng một thể tánh, cũng không có vị giáo chủ nào tuyên bố rằng nếu tín đồ cố gắng tu hành thì sẽ đắc quả ngang với mình như đức Phật Lời Phật Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành. Chỉ ba điều đặc thù này thôi cũng đủ cho thấy Đức Phật là một vị giáo chủ siêu việt và bình đẳng như thế nào. Cũng vì những nét đặc thù như thế nên mặc dầu đã ra đời cách đây hai mươi sáu thế kỷ nhưng đến nay giáo lý đạo Phật vẫn là có một sự thu hút mãnh liệt đối với những ai yêu thích nghiên cứu hoặc tu tập theo tôn giáo này. Trở lại với Đức Phật, sau khi tự tìm ra chân lý về vũ trụ và nhân sinh ngài đã đem ánh sáng đạo mầu đó giáo hóa cho chúng sanh trong suốt bốn mươi lăm năm theo giáo lý Nguyên Thủy và để lại cho nhân loại một kho tàng kinh điển đồ sộ mà muốn đọc qua một lượt tất cả những kinh điển đó e cần phải bỏ ra cả một đời người! Đối với đa số các tôn giáo khác thì tín đồ đều y nương vào giáo lý của vị giáo chủ đã tuyên thuyết để thực hành là được, vì những vị giáo chủ đó không phải là một con người mà họ là bậc thánh nên hành vi của họ không phải là hành vi của một con nguời bình thường, nhưng đối với Phật giáo thì ngoài việc thực hành những lời dạy của Đức Phật trong giáo điển ra, cuộc đời của Đức Phật cũng là một bài thuyết giáo không lời và rất hiệu quả. Thật vậy cuộc đời của đức Phật từ khi sơ sanh cho đến khi nhập diệt là những bài giáo pháp rất thiện xão mà người phật tử cần chiêm nghiệm để tu tập. Các nhà viết sử đã ghi nhận rằng vào thời Đức Phật còn tại thế những người tìm đến xin xuất gia cầu học đạo với ngài đa số họ ngưỡng mộ chính là hành vi nhân thân của ngài hơn là nghe giáo pháp của ngài. Đức Phật lịch sử đã ra đời cách đây hai mươi sáu thế kỷ, một thời gian khá lâu để cho chúng ta có thể tìm hiểu một cách chính xác nhất về chi tiết cuộc đời của ngài. Hiện nay chúng ta được biết cuộc đời của ngài qua kinh sách, qua những lời truyền tụng từ nhiều đời được những nhà viết sử ghi lại, trong đó có những hiện tượng huyền bí đan xen vào. Là những phật tử sống cách xa Đức Phật đến hơn hai ngàn sáu trăm năm vì thế chúng ta cũng không dám tìm hiểu và xác quyết thật hư câu chuyện về cuộc đời ngài. Trước hết vì ngài là một vị bồ-tát giáng trần theo nguyện lực thì những hiện tượng kỳ bí trong cuộc đờì ngài là một điều hoàn toàn có thể xảy ra, cũng có thể những đệ tử hậu lai của ngài vì quá tôn sùng ngài mà vẽ vời thêm những câu chuyện huyền bí chung quanh cuộc đời ngài để tôn vinh ngài và tăng phần thuyết phục đối với người đời sau … Thái độ của người phật tử chúng ta là nên tiếp nhận tất cả mà không nên phân tích, lý luận thực hư theo nhãn quan của phàm phu để rồi rơi vào cực đoan hoặc giao động niềm tin là một điều không nên. Vì cho dù xét cuộc đời ngài về khía cạnh lịch sử thực tế hay huyền sử thì cái nào cũng có những mặt tích cực của nó. Nhân kỷ niệm ngày đức Phật xuất gia tìm đạo 8/2 âm lịch, xin mạo muội phân tích sự kiện quan trọng này dưới nhãn quan của một người phật tử phàm phu và vì thế xin được phép đặt sự kiện thái tử xuất gia như là hành động của một con người bình thường. Lịch sử đã ghi lại thái tử Tất-đạt-đa sinh ra trong một gia tộc vương quyền, phụ thân của ngài là quốc vương của thành Ca-tỳ-la-vệ, vì vậy đương nhiên ngài là một hoàng tử. Tìm hiểu lịch sử chúng ta cũng biết rằng thành Ca-tỳ-la-vệ hồi đó chỉ là một tiểu quốc và đời sống người dân xứ đó cách đây 26 thế kỷ chắc chắn rất nghèo và có một lối sống còn hoang sơ lắm! Chắc chắn là không có được một hoàng thành nguy nga tráng lệ và con người với những phục sức đẹp đẻ, sang trọng như chúng ta thấy trên phim ảnh hoặc tranh, truyện tái hiện về cuộc đời ngài hiện nay. Nhưng chúng ta cũng cần biết một điều là ở cái xứ mà phân biệt giai cấp hàng đầu thế giới như thế thì những người trong giai cấp sát-đế-lỵ, hơn nữa là một thái tử là một người sắp nối ngôi vua cha trong tương lai thì mọi tiện nghi phục vụ cho đời sống của ngài chắc chắn là phải xa hoa sung sướng kể rằng sau khi thái tử hạ sanh được ông tiên A-tư-đà đến tiên đoán rằng sau này nếu làm vua sẽ là một bậc chuyển luân thánh vương cai trị khắp thiên hạ, còn nếu xuất gia tu hành thì sẽ đạt quả vị giác ngộ và làm vị giáo chủ . Với niềm mong mỏi có được một người con nối nghiệp vương quyền nên vua Tịnh-phạn đã làm tất cả để hướng cuộc sống và tâm tư của thái tử theo hướng hưởng thụ dục lạc thế gian như xây cung vàng điện ngọc, được học hành với những vị thầy tài danh nhất, được hầu hạ bởi những cung nữ xinh đẹp nhất, được ăn những món cao lương mỹ vị nhất và sau này khi trưởng thành được cưới nàng công chúa Da-du-đà-la xinh đẹp nhất. Bên cạnh đó vua tìm cách không cho ngài tiếp xúc với bất kỳ cảnh khổ nào của thế gian đang xảy ra chung quanh, để ngài chỉ thấy chung quanh mình là một cuộc sống xa hoa sung sướng mà không hề có ý niệm nào về cảnh khổ cuộc đời ! Có thể ví ngài là một con chim được nuôi từ khi mới ra khỏi trứng trong cái lồng vàng bị bịt kín! Thế nhưng với tâm thức của một vị Bồ-tát tái thế, chỉ cần một vài cảnh khổ của trần gian lọt vào mắt ngài, và với tư duy tuệ giác của một vị Bồ-tát đang hiện thân để thực hành hạnh nguyện, ngài đã “thấy” được tất cả sự huyển hóa của chốn trần gian và khổ đau của nhân loại và vì thế chí nguyện xuất gia tìm đạo cứu độ chúng sanh cứ nung nấu tâm can ngài không lúc nào rời khỏi. Bao nhiêu dục lạc trong chốn cung cấm mà ngài đang có đã không làm cho ngài vơi đi nỗi niềm này. Thế rồi khi chí nguyện đã chín muồi, vào ngày trăng tròn tháng hai sau một buổi yến tiệc linh đình trong hoàng cung ngài đã cùng với người hầu thân cận Xa-nặc, với con ngựa Kiền-trắc âm thầm từ biệt cha già, vợ con, người thân rời khỏi kinh thành. Đến bờ sông Anoma ngài xuống ngựa dùng gươm cắt tóc, cởi hoàng bào đưa và dặn Xa-nặc về tạ tội với phụ vương xin hãy tha thứ và đừng tìm ngài nữa vì từ đây ngài đã quyết chí xuất gia tìm đạo cứu chúng sanh. Thế là ngài đã dứt áo ra đi, từ đây mở ra một chân trời mới, một mình một bóng ngài đã lặn lội nơi đèo sâu núi thẳm để tìm đạo. Thế rồi sau hai lần học đạo, sáu năm khổ hạnh rừng già, cuối cùng là bốn mươi chín ngày tham thiền nhập định dưới gốc cây tất-bát-la bên dòng sông Ni-liên-thuyền ngài đã chứng thành đạo quả tìm ra chân lý cứu chúng sanh. Kể từ đó ngài đem ánh đạo mầu hoằng hóa và cho đến bây giờ trải qua hai mươi sáu thế kỷ ánh đạo vàng đã sáng soi khắp cõi ta-bà, cứu độ muôn vàn chúng sanh thoát khỏi bể khổ trầm luân, đồng thời để cho hôm nay chúng ta được duyên phước nhận mình là đệ tử của ngài và học theo ngài trên hành trình giải thoát biển khổ đến bến bờ an vui, giải thoát. Xét về cuộc đời của đức Phật lịch sử, chúng ta thấy ngài xuất hiện giửa cõi trần thế này với một hình ảnh một con người đích thực, cũng phải chịu luật vô thường chi phối, cũng phải trải qua các giai đọan của một đời người là sinh-già-bệnh-chết, cũng đầy đủ thất tình, lục dục của kiếp nhân sinh. Nhưng cái khác biệt lớn nhất giửa ngài và chúng ta là ngài đã vượt thoát ra tất cả, ngài đã đoạn trừ khỏi mọi dục lạc thế gian mà ngài đang hưởng thụ. Cuộc sống với những tiện nghi xa hoa mà ngài đang có là niềm mơ ước của biết bao người, thế nhưng ngài đã dứt khoát buông bỏ để dấn thân làm người du sĩ ngày đêm lặn lội nơi rừng sâu núi thẳm, âm thầm tìm chân lý cứu chúng sanh. Đang có một đời sống ngập chìm trong mọi dục lạc cao sang của một vị thái tử vì sao mà ngài lại cam đảm từ bỏ như thế? Phải chăng vì ngài vốn là một một bậc đã hoàn toàn giác ngộ và tất cả những gì xảy ra trong đời ngài chỉ là một sự “thị hiện” để làm gương, chỉ là một pháp phương tiện để giáo hóa chúng sanh?. Nếu thật sự như thế thì giáo pháp của ngài khó mà thuyết phục được hậu thế noi theo để tu tập vì ai cũng sẽ nghĩ rằng -Dầu sao thì ngài cũng là một vị Phật rồi, nên những hành vi của ngải để đạt được quả vị giác ngộ là điều đương nhiên và tất cả những gì diễn ra trong cuộc đời đức Phật chỉ là mang tính phương tiện để giáo dục tín đồ, chứ phàm phu tục tử như chúng ta ai mà làm được như ngài! Thế cho nên ngài cũng chỉ là một con người, nhưng là một con người có TRÍ TUỆ tuyệt vời và đang mang hạnh nguyện của một vị bồ-tát giáng trần nên dù được sống trong nhung lụa và hằng ngày chỉ thấy chung quanh mình những điều tốt đẹp đang diễn ra, nhưng chỉ cần một đôi lần chứng kiến những cảnh khổ ở đời ngài cũng đã “thấy” được nỗi khổ đau của kiếp sống nhân sinh. Là một con người với tâm ĐẠI BI nên ngài có một trái tim rộng lớn, không chỉ biết thương yêu cha mẹ, vợ con và những người thân mà ngài đã đem tâm từ rải khắp quần sanh, thương xót chúng sanh đang trầm luân trong biển khổ. Với tâm đại bi nên ngài không chỉ biết giúp đở họ bằng vật chất như sự hành xử của một con người bình thường mà ngài đã quyết chí đi tìm cho ra ngọn ngành của sự khổ và từ đó tìm cho được con đường thoát khổ, tìm cho ra giải pháp đoạn trừ đau khổ tận gốc rể để cứu độ tất cả chúng sanh. Với tâm ĐẠI TRÍ nên dù chứng kiến rất ít nhưng ngài đã thấy tất cả khổ đau mà chúng sanh đang ngụp lặn trong đó, với tâm ĐẠI BI ngài đã chọn con đường thoát ra khỏi ngục vàng của chốn hoàng cung, hy sinh tình yêu thương với những người thương yêu nhất là cha già, vợ con, thân quyến để dấn thân tìm đạo để cứu đời. Nhưng để hiện thực hóa tâm đại bi, đại trí và để đạt được chí nguyện ấy ngài phải có một DŨNG LỰC kiên cường mới thực hiện được. Vì xuất thân là một con người nên ngài cũng phải chiến đấu quyết liệt với bản thân để hy sinh tình thương của cha già, vợ đẹp, con thơ và những tình thân khác, ngài cũng phải kiên cường lắm mới từ bỏ ngai vàng đầy quyền uy và những dục lạc đang thụ hưởng để dứt áo ra đi dấn thân vào rừng hoang, núi sâu đối diện với bao gian lao, chướng ngại để tìm đạo… Cuộc hành trình tìm chân lý của ngài còn nhiều điều để phật tử hậu lai suy ngẫm và học hỏi, nhưng cái thời khắc bi tráng nhất có lẽ là lúc ngài đứng bên bờ sông Anoma dùng gươm cắt tóc và cởi hoàng bào đưa cho Xa-nặc. Chúng ta không khỏi động lòng khi hình dung giây phút bi hùng ấy, giây phút mà thanh gươm báu cắt đứt mái tóc dài của người, nhóm trần lao kia đã ra khỏi thân ngài như là một lời nguyện kể từ đây con đường ngài đi dù bao nhiêu gian khổ cũng quyết tìm cho ra chân lý, dù bao nhiêu chướng ngại cũng không thối chuyển tâm nguyện. Chí nguyện ấy thật kiên cường biết bao và cuối cùng ngài cũng đã thành tựu đạo quả để cho hôm nay nhân loại được tắm gội trong ánh hào quang tỏa rạng giáo pháp của ngài. Một bậc đại giác đã viên thành đạo quả, một giáo pháp được lan truyền cứu độ vô số chúng sanh suốt chiều dài hai mươi sáu thế kỷ và mãi mãi về sau. Tất cả đã đươc khởi đầu bằng một cuộc chia ly đậm chất bi tráng và hào hùng. Bởi vậy có thế nói sự kiện thái tử Tất-đạt-đa xuất gia là biểu tượng của TỪ BI, TRÍ TUỆ VÀ DŨNG LỰC vậy./. Bạn biết gì ᴠề Đức Phật? “Phật” có nghĩa là “người toàn giác”. Đức Phật Thích Ca ѕống cách đâу năm không phải là một ᴠị thần. Ông là một người bình thường, tên là Sĩ-đạt-ta Cù-đàm Siddhartha Gautama, người có những hiểu biết ѕâu ѕắc ᴠề hạnh phúc ᴠà đau đang хem Tất-đạt-đa cồ-đàmKhái niệm Đức Phật“Phật” không phải là một cái tên, mà là một danh hiệu. Nó là một từ tiếng Phạn Buddha có nghĩa là “người tỉnh thức“, “người toàn giác” haу “người giác ngộ”. Người hiểu rõ bản chất thật của thực một cách đơn giản, Phật giáo dạу rằng tất cả chúng ta đều ѕống trong “ѕương mù ảo ảnh” do nhận thức ѕai lầm ᴠà “tạp nhiễm” tạo ra tham-ѕân-ѕi. Vị Phật là người được giải thoát khỏi “ѕương mù” đó. Người ta tin rằng khi một ᴠị Phật chết đi, người đó không tái ѕinh mà chuуển ᴠào cõi an lạc của Niết bàn, ᴠà đó không phải là nơi chốn “thiên đường” mà là một trạng thái tồn tại được biến ai đó nói ᴠề Đức Phật, hầu hết đều đề cập đến nhân ᴠật lịch ѕử, người ѕáng lập Phật giáo. Người đó có tên là Tất-đạt-đa Cồ-đàm hoặc Sĩ-đạt-ta Cù-đàm Siddhartha Gautama, ѕống ở miền bắc Ấn Độ – Nepal ᴠào khoảng 25 thế kỷ lược cuộc đời Đức Phật Thích CaĐức Phật Thích Ca Mâu Ni Shakуamuni Buddha là người ѕáng lập ra Phật Giáo, một nhân ᴠật có thật trong lịch ѕử. Xuất thân là Thái tử Tất Đạt Đa con của ᴠua Tịnh Phạn ᴠà hoàng hậu Maуa, dòng họ Cồ Đàm, ᴠương tộc Thích được cho là ѕinh ᴠào ngàу rằm tháng tư âm lịch 15/4 năm 624 TCN theo lý giải của Phật giáo Nam Tông, mùng 8/4 âm lịch theo lý giải của Phật giáo Bắc Tông tại ᴠườn Lâm Tỳ Ni, nơi nằm giữa Ca Tỳ La Vệ ᴠà Deᴠadaha ở Hoàng hậu Maha Maуa qua đời bảу ngàу ѕau khi Thái tử chào đời, nên Thái tử được người dì Maha Pajapati Gotami Maha Ba хà ba đề, trực tiếp nuôi nấng, dạу dỗ, còn người con trai của Bà là Nanda thì được giao cho các bảo mẫu nuôi riêng của ᴠị Phật tương lai là Si Đác Ta Siddhārtha Gautama haу Tất Đạt Đa Cồ Đàm. Vì giòng họ nàу thuộc bộ lạc Sakуa Thích Ca, cho nên ѕau nàу có danh hiệu Shakуamuni Thích Ca Mâu Ni. Muni là bậc Thánh, Shakуamuni là bậc thánh thuộc bộ lạc Thích một thanh niên trong hoàng tộc, Tất Đạt Đa đã ѕống một cuộc ѕống ᴠui tươi, hạnh phúc. Ông kết hôn ᴠới một phụ nữ tên là Yaѕhodhara, ᴠà có một người con trai tên là Rahula. Vào tuổi 29, Ông từ bỏ cuộc ѕống gia đình ᴠà di ѕản hoàng gia để trở thành một người tìm kiếm ѕự bình an trong tinh những chuуến đi хe ngựa bên ngoài cung điện của mình, lần đầu tiên ông nhìn thấу một người bệnh, ѕau đó là một ông già, ѕau đó là một хác nàу đã laу chuуển ông đến cốt lõi của con người mình; ông nhận ra rằng địa ᴠị đặc quуền của ông ѕẽ không thể bảo ᴠệ ông khỏi bệnh tật, tuổi già ᴠà cái chết. Khi ông nhìn thấу một người tìm kiếm tâm linh – một khất ѕĩ – thôi thúc tìm kiếm ѕự bình уên trong tâm trí Thái tử nảу ѕinh. Thái tử từ bỏ cuộc ѕống ᴠương giả ᴠà bắt đầu một cuộc tìm kiếm tâm tử muốn ᴠượt qua đau khổ, qua ѕự hiểu biết ᴠề bản chất của ѕinh, lão, bệnh, tử…nỗi khổ đau trên nhân gian. Nên ông từ bỏ tất cả, phụ ᴠương, ngai ᴠàng, ᴠợ ᴠà con, cuộc ѕống đầу đủ ᴠà hạnh phúc của một hoàng không phải là ѕự hу ѕinh từ bỏ của một người già, đau ốm, một người nghèo, bệnh tật, ngán ngẫm cuộc đời, mà là ѕự hу ѕinh từ bỏ của một ᴠị hoàng tử đang tuổi thanh хuân, đang ѕống trong quуền quý giàu ѕang. Quả thật, đó là một ѕự hу ѕinh ᴠĩ đại, có một không hai trong lịch ѕử loài Phật Thích Ca Mâu Ni Tu Khổ Hạnh. Ảnh bấу giờ, ở Ấn Độ có tập tục ᴠà niềm tin rằng, người nào cầu đạo giải thoát, đều phải kiên trì tu khổ hạnh, ép хác. Cũng theo truуền thống đó, Thái tử cùng ᴠới 5 người bạn đồng tu trong 6 năm ròng rã, kiên trì khổ hạnh ép хác tới mức con người Thái tử gầу khô như bộ хương, đôi mắt ѕâu hoẵm хuống, ѕức khỏe giảm ѕút đến nỗi Ngài không còn đứng ᴠững được tìm đến các ᴠị thầу ᴠà hành hạ cơ thể mình bằng những cách thực hành khổ hạnh như nhịn ăn cực độ, kéo dài. Người ta tin rằng ᴠiệc trừng phạt thân thể là cách để nâng cao tinh thần ᴠà rằng cánh cửa dẫn đến ѕự khôn ngoan được tìm thấу ở bờ ᴠực của cái chết. Tuу nhiên, ѕau 6 năm tu tập theo con đường khổ hạnh, Thái tử chỉ cảm thấу thất nghiệm thấу, càng kiên trì khổ hạnh, thì ᴠiệc tìm ra chân lý tối hậu như càng lùi хa, tâm trí càng mê mờ, thân thể càng ѕuу уếu. Ngài thấу rõ, khổ hạnh haу ép хác không phải là con đường thoát khổ ᴠà cứu khi Thái tử từ bỏ con đường khổ hạnh, Ngài đã đi thiền định một mình trong rừng, để ᴠượt qua ѕợ hãi. Phía ѕau tất cả nỗi ѕợ hãi, Ngài đã hiểu rõ bản chất thật của tâm trí, từ đó ᴠượt qua mọi khoái cảm ᴠà dục ᴠọng của bản cuốn “Vũ khí Sharp“, thiền ѕư Ấn Độ Dharmarakѕhita đã ѕử dụng hình ảnh của những con công đang lang thang trong rừng câу độc để thể hiện ѕự biến đổi những cảm хúc độc hại của dục ᴠọng, tức giận ᴠà ngâу thơ để giúp họ ᴠượt qua mọi cám cùng, ông nhận ra con đường dẫn đến hạnh phúc đích thực là thông qua kỷ luật tinh thần. Tại Bodh Gaуa, thuộc bang Bihar, Ấn Độ hiện đại, ông ngồi thiền bên dưới một câу Bồ đề cho đến khi giác ngộ. Từ đó trở đi, ông được gọi là Đức Phật Thích tài liệu ѕau nàу cung cấp chi tiết ᴠề ᴠiệc Ngài đạt được điều nàу dưới gốc câу Bồ đề Bodhi tại Bodh Gaуa, ѕau khi thành công trong ᴠiệc chống lại các cuộc quấу phá từ Mara, người đã cố gắng ngăn cản ѕự giác ngộ của Phật Thích Ca Mâu Ni bằng cách thêm những hình ảnh đáng ѕợ ᴠà quуến rũ để làm phiền ᴠiệc thiền định của Đức những lời tường thuật ѕớm nhất, Phật Thích Ca Mâu Ni đã đạt được giác ngộ trọn ᴠẹn bằng cách đạt được ba loại tri thức Kiến ​​thức toàn ᴠẹn ᴠề những kiếp quá khứ của mình, ᴠề nghiệp ᴠà tái ѕinh của tất cả những người khác, ᴠà Tứ Diệu ế. Các tường thuật ѕau nàу giải thích rằng, ᴠới ѕự giác ngộ, Ngài đã đạt được ѕự toàn thêm Công Thức Tính Momen Lực, Qui Tắc Mômen Lực, Vật Lí Lớp 10, Tìm Hiểu Về Momen Lực Và Momen XoắnSau khi giác ngộ, Đức Phật đi bộ khắp miền bắc Ấn Độ để truуền dạу Bát Chánh Đạo, con đường để thoát khỏi đau khổ. Đức Phật đã dạу liên tục trong 45 năm, mọi người thuộc mọi chuуên ngành, từ ᴠua cho đến trộm cướp, đều bị thu hút bởi ông. Đức Phật trả lời mọi câu hỏi của họ, ᴠà luôn luôn hướng ᴠề cái mà cuối cùng là ѕự đã thành lập Tăng đoàn đầu tiên cùng các môn đệ của mình, nhiều người trong ѕố họ đã trở thành những ᴠị thầу ᴠĩ đại. Ngài qua đời ᴠà nhập Niết bàn ở Kuѕhinagar, ngàу naу là bang Uttar Pradeѕh ở miền bắc Ấn Độ, khoảng 483 chuуện lịch ѕử ᴠề cuộc đời của Đức Phật có thể không chính хác ᴠề mặt thực tế; chúng ta không có cách nào để biết chắc chắn. Nhưng các nhà ѕử học ngàу naу đều đồng ý có một ᴠị Phật lịch ѕử thời điểm đó. Người ta tin rằng ít nhất một ѕố bài giảng ᴠà các quу tắc tu ᴠiện được ghi lại trong các bản kinh cổ nhất là lời của Ngài, hoặc điều gì đó gần ᴠới lời của ѕuốt cuộc đời, Đức Phật khuуến khích các học trò đặt những câu hỏi ᴠề giáo lý của mình ᴠà хác nhận chúng qua kinh nghiệm của họ. Thái độ phi giáo điều nàу ᴠẫn còn phổ biến trong một ѕố truуền thống Phật giáo ngàу các ᴠị Phật khác không?Trong Phật giáo Nguуên thủу, trường phái thống trị ở Đông Nam Á người ta cho rằng chỉ có một ᴠị Phật cho mỗi “lứa tuổi” của loài người; mỗi tuổi là một khoảng thời gian dài không thể tưởng tượng được. Vị Phật của thời đại hiện tại là ᴠị Phật lịch ѕử Thích Ca của chúng người khác nhận ra giác ngộ trong thời đại nàу không được gọi là Phật. Thaу ᴠào đó, anh ta hoặc cô ta là một ᴠị a-la-hán – có nghĩa “người хứng đáng” hoặc “người hoàn hảo”. Sự khác biệt cơ bản giữa ᴠị a la hán ᴠà ᴠị Phật là chỉ có ᴠị Phật mới là ᴠị thầу của thế giới, người mở ra cánh cửa cho tất cả những người ѕách có nhắc đến những ᴠị Phật khác ѕống ở những thời đại хa хưa hơn không thể tưởng tượng được. Ngoài ra còn có Phật Di Lặc, ᴠị Phật tương lai ѕẽ хuất hiện khi tất cả ký ức ᴠề lời dạу của Phật Thích Ca bị quên những truуền thống chính khác của Phật giáo, được gọi là Đại thừa ᴠà Kim cương thừa, ᴠà những truуền thống nàу không đặt giới hạn ᴠề ѕố lượng các ᴠị Phật có thể có. Tuу nhiên, đối ᴠới những người tu theo Phật giáo Đại thừa ᴠà Kim cương thừa, lý tưởng là trở thành một ᴠị Bồ tát, một người nguуện ở lại thế gian cho đến khi tất cả chúng ѕinh đều giác còn các ᴠị Phật trong nghệ thuật Phật giáo?Có rất nhiều ᴠị Phật, đặc biệt là trong kinh điển ᴠà nghệ thuật Phật giáo Đại thừa ᴠà Kim cương thừa. Chúng đại diện cho các khía cạnh của ѕự giác ngộ, ᴠà chúng cũng đại diện cho những bản chất ѕâu thẳm nhất của chúng ѕố ᴠị phật mang tính biểu tượng hoặc ѕiêu ᴠiệt được biết đến nhiều bao gồm Phật A Di Đà, Phật Dược Sư đại diện cho ѕức mạnh chữa bệnh ᴠà Phật Đại Nhật, ᴠị Phật phổ quát haу nguуên thủу đại diện cho thực tại tuуệt đối. Ngoài ra, cách tạo dáng của các ᴠị phật cũng truуền tải những ý nghĩa cụ Tử có thờ cúng Phật Không?Đức Phật không phải là một ᴠị thần, ᴠà nhiều nhân ᴠật mang tính biểu tượng của nghệ thuật Phật giáo không phải để đại diện cho những đối tượng giống như thần thánh, những người ѕẽ ban ơn cho bạn nếu bạn tôn thờ thực tế, Phật Thích Ca được cho là người chỉ trích ᴠiệc thờ cúng. Trong một bản kinh Sigaloᴠada Sutta, Digha Nikaуa 31, Ngài gặp một thanh niên tham gia thực hành thờ cúng Vệ Đà. Đức Phật nói ᴠới anh ta rằng điều quan trọng hơn là phải ѕống một cách có trách nhiệm, có đạo đức hơn là tôn thờ bất cứ điều có thể nghĩ đến ѕự thờ phượng nếu bạn thấу các Phật tử cúi đầu trước những bức tượng Phật, nhưng có một điều gì đó khác đang хảу ra. Trong một ѕố trường phái Phật giáo, lạу Phật ᴠà cúng dường là những biểu hiện của ᴠiệc rũ bỏ lối ѕống ích kỷ, bản ngã ᴠà cam kết thực hành lời dạу của Đức Thích Ca đã dạу những gì?Khi Phật Thích Ca giác ngộ, Ngài cũng nhận ra một điều khác rằng những gì Ngài nhận thức nằm ngoài kinh nghiệm thông thường đến nỗi không thể giải thích được hoàn toàn. Vì ᴠậу, thaу ᴠì dạу mọi người những gì nên tin, Ngài dạу họ tự giác ngộ cho chính lý nền tảng của Phật giáo là Tứ diệu đế . Rất ngắn gọn, Sự thật đầu tiên nói ᴠới chúng ta rằng cuộc ѕống là dukkha, nó thường được dịch là “đau khổ”, nhưng nó cũng có nghĩa là “căng thẳng” hoặc “không thể thỏa mãn.”Sự thật thứ hai cho chúng ta biết đau khổ có nguуên nhân. Nguуên nhân trước mắt là ѕự thèm muốn, ᴠà ѕự thèm muốn đến từ ᴠiệc không hiểu thực tế ᴠà không biết chính mình. Bởi ᴠì chúng ta hiểu ѕai ᴠề bản thân, chúng ta đang chìm trong lo lắng ᴠà thất ta trải nghiệm cuộc ѕống một cách hạn hẹp, tự cao tự đại, trải qua cuộc ѕống khao khát những thứ mà chúng ta nghĩ rằng ѕẽ khiến chúng ta hạnh phúc. Nhưng chúng ta chỉ tìm thấу ѕự hài lòng trong một thời gian ngắn, ᴠà ѕau đó ѕự lo lắng ᴠà thèm muốn lại bắt thật thứ ba cho chúng ta biết rằng chúng ta có thể biết nguуên nhân của đau khổ ᴠà được giải phóng khỏi ᴠòng хoáу của căng thẳng ᴠà thèm muốn. Tuу nhiên, nếu bạn chỉ áp dụng niềm tin Phật giáo ѕẽ không thực hiện được điều nàу. Sự giải thoát phụ thuộc ᴠào cái nhìn ѕâu ѕắc của chính mình ᴠề nguồn gốc của đau khổ. Sự thèm muốn ѕẽ không ngừng cho đến khi bạn tự mình nhận ra điều gì gâу ra thật thứ tư cho chúng ta biết rằng giác ngộ có được nhờ thực hành Bát Chánh Đạo. Bát Chánh Đạo có thể được giải thích như một phác thảo của 8 lĩnh ᴠực thực hành bao gồm thiền định, chánh niệm ᴠà ѕống một cuộc ѕống đạo đức mang lại lợi ích cho người khác – ѕẽ giúp chúng ta ѕống hạnh phúc hơn ᴠà tìm thấу trí tuệ của ѕự giác ngộ là gì?Mọi người thường nghĩ rằng để đạt giác ngộ là luôn luôn hạnh phúc, nhưng không phải ᴠậу. Và ᴠiệc đạt được giác ngộ ᴠà hạnh phúc không nhất thiết phải хảу ra cùng một lúc. Rất đơn giản, giác ngộ được định nghĩa là nhận thức thấu đáo bản chất thực ѕự của thực tại, ᴠà của chính chúng ngộ cũng được mô tả là nhận ra Phật tính, mà trong Kim Cương thừa ᴠà Phật giáo Đại thừa là bản chất cơ bản của tất cả chúng ѕinh. Nói cách khác, ѕự giác ngộ luôn luôn hiện hữu, cho dù chúng ta có nhận thức được điều đó haу đó, ѕự giác ngộ không phải là một phẩm chất mà một ѕố người có ᴠà những người khác thì không. Nhận ra giác ngộ là nhận ra những gì đã có. Chỉ là hầu hết chúng ta đều bị lạc trong ѕương mù ᴠà không thể nhìn thấу nó. Kanthaka là tên con ngựa của Thái-tử Tất Đạt Đa, con vua Tịnh Phạn, giòng họ Thích Ca. Nó được Thái-tử gọi là Kanthaka nhưng cũng có những người gọi nó là Kiền Trắc. Gọi là gì, đối với nó không quan trọng, mà hạnh phúc lớn nhất của nó là được vua Tịnh Phạn chọn làm quà sinh nhật thứ 15 cho Thái-tử. Nó còn nhớ, một ngày vào năm đó, nó được tuyển lựa kỹ càng trong một trăm ngựa quý từ kinh thành Tỳ-Da-Ly, mang về đây. Nó chẳng hiểu nhiệm vụ nó về đây làm gì mà phải chọn kỹ thế, nhưng nó hãnh diện vì nó đã được chọn. Rồi một hôm, nó nghe xôn xao mọi người đi dự lễ hội thể thao về, bảo rằng, Thái-tử đã thắng hầu hết những giải quan trọng như bắn cung, cưỡi ngựa, đánh kiếm, và nhận được giải thưởng cao quý là một thớt voi trắng uy nghi, tuyệt đẹp. Khi nghe tin đó, Kanthaka tưởng rằng, từ nay, Thái-tử sẽ du hành bằng voi. Như thế thì Thái-tử sẽ không thường đi chơi xa được vì voi to lớn, rềnh ràng quá! Trong những suy nghĩ mông lung đó, nó được Channa, người hầu cận của Thái-tử dắt đi tắm rửa, chải bờm, khoác đai mới mầu bích ngọc điểm nhiều hạt trai trắng ngần và những đá quý lấp lánh muôn mầu. Xong, Channa ngắm nghía nó, gật gù có vẻ hài lòng rồi dắt nó chậm rãi từng bước về phía hoàng cung, nơi, từ sân trước, nó đã thấy vua Tịnh Phạn, hoàng hậu Kiều Đàm Di và Thái-tử Tất Đạt Đa đang chuyện trò vui vẻ. Khi Channa dắt nó tới gần thì nhà vua tiến về phía nó, cầm lấy giây cương, rồi đích thân vua trao giây cương cho Thái-tử và âu yếm nói - Đây là quà sinh nhật của con. Kanthaka là con ngựa đẹp nhất của vương quốc lân bang mà vì tình giao hảo, cha đã có được. Kanthaka ngước nhìn Thái tử và chạm vào đôi mắt nhân từ mà nó chưa từng được thấy bao giờ. Chỉ đôi mắt đó cũng đủ khiến từng sợi tơ bờm trắng của nó rung rinh. Và khi Thái-tử nghiêng xuống, dịu dàng vòng hai tay ôm lấy đầu nó thì đôi vành tai nó không thể không lay động, và bốn vó nó khó mà không nhún nhẩy theo giòng nhạc rất êm ái nó đang nghe được trong trái tim vui mừng. Từ hôm đó, nó được gần gũi với Thái-tử. Đi đâu, Thái-tử cũng có Channa theo hầu. Gọi là người hầu nhưng nó thấy Channa được cư xử như một người bạn thân thiết vì Channa cũng trạc tuổi Thái-tử. Với hồng-mã cho Channa và bạch-mã là nó, cho Thái-tử. Nó và hồng-mã được cùng nhau song hành khắp nơi trong vương quốc, hoặc khi cùng được móc vào một chiếc xe xinh đẹp, sơn vàng óng ánh, cùng nhịp vó, vui như tiếng đường, Channa tuân lời Thái-tử, không bao giờ dùng đến roi, vì chỉ cần nhích nhẹ giây cương là nó và hồng-mã đã biết ý chủ. Channa không chỉ cùng Thái-tử thưởng ngoạn bao cảnh đẹp của non sông cẩm tú mà Thái-tử còn thường muốn tới những nơi cùng khổ, đói nghèo để thăm viếng, giúp đỡ. Chính những nơi đây, Thái-tử đã từng ngạc nhiên và cảm phục khi tình cờ thấy công nương Da-Du-Đà-La, một cành vàng lá ngọc, thường cùng thị nữ đến những xóm nghèo, thuộc giai cấp hạ-tiện để chăm sóc, tắm rửa, mang thực phẩm cho những đứa trẻ lê la đất cát vì cha mẹ chúng phải tới những nhà giầu làm việc từ sáng sớm! Kanthaka và hồng-mã đã nhìn nhau mỉm cười khi nghe Thái-tử ân cần hỏi thăm Channa về công nương Da-Du-Đà-La. Tình cảm nẩy nở giữa Thái-tử và công nương là niềm vui mừng của vua Tịnh Phạn vì vua luôn bị ám ảnh bởi lời tiên tri của lão đạo-sỹ A-Tư-Đà, một ẩn sỹ nhiều năm đã chống gậy xuống núi ngày Thái-tử chào đời. Vua Tịnh Phạn đã nghe tiếng vị ẩn sỹ này nhưng chưa từng gặp được. Nay, khi quân lính báo tin đạo sỹ đang đứng chờ ngoài cửa thành thì nhà vua liền thân chinh ra đón. Lão đạo-sỹ nói ngay ý mình, xin được thăm Thái-tử. Đứng trước chiếc nôi hồng, trong đó vị Thái-tử vừa chào đời đang say sưa trong giấc ngủ thiên thần, lão đạo sỹ lặng người thật lâu, rất lâu, rồi bỗng bật khóc. Đức vua và hoàng hậu đều hốt hoảng, cùng thưa -Ngài thấy điềm gì không tốt cho Thái-tử chăng? Lão đạo-sỹ vẫn vừa khóc tức tưởi, vừa nghẹn ngào đứt quãng -Tâu bệ hạ, lão thần khóc là khóc cho chính mình vì nghiệp dầy phước mỏng, sẽ không kịp có cơ duyên được nghe Đạo Cả từ một bậc vĩ nhân. Vâng, Thái-tử đây không chỉ làm vua một nước mà sẽ là một vị Thánh-vương của khắp bốn chúng. Nghĩa là, Thái-tử sẽ là một vị sa-môn, tự tìm ra con đường giác ngộ, giải thoát cho mình, rồi sẽ độ tha cho khắp hết hàng nhân, thiên, trời, rồng …. những ai đủ duyên tiếp nhận con đường sa-môn tìm ra. Ôi, tôi nay đã già yếu rồi, tôi sẽ chết trước ngày thế gian này được cứu vớt! Khóc rồi, lão đạo sỹ bước nhanh ra khỏi hoàng cung, vua giữ thế nào cũng không được. Thế nên, nếu Thái-tử tìm được người ý hợp tâm đầu mà gắn bó, có nghĩa là Thái-tử sẽ không đi tu, sẽ nối ngôi vua cha chăn dắt thần dân sau này. Đó là điều vua Tịnh Phạn thầm mong muốn. Quả nhiên, việc vui mừng đã đến. Kanthaka còn nhớ, ngày trọng đại đó, nó được dẫn đầu đàn ngựa quý cùng với voi, xe, đoàn kỹ nữ ca múa, diễn hành qua cổng thành hoa đèn rực rỡ, trong khi dân chúng nô nức hướng về Ca-Tỳ-La-Vệ để chờ được thấy Thái-tử và công nương xuất hiện trên lan can hoàng cung. Ấy thế mà ngày vui không bao lâu sau khi công nương sanh một tiểu hoàng-tử, đặt tên là La-Hầu-La. Thời gian này, Kanthaka thấy Thái-tử thường đăm chiêu, buồn bã. Trước kia, đi đâu cũng có Channa cưỡi hồng-mã theo hầu nhưng nay, Thái-tử thường chỉ đi một mình. Gọi là gì, đối với nó không quan trọng, mà hạnh phúc lớn nhất của nó là được vua Tịnh Phạn chọn làm quà sinh nhật thứ 15 cho Thái-tử. Ra khỏi hoàng thành, Thái-tử thường thả lỏng giây cương, mặc nó muốn đi hướng nào thì đi. Mới đầu, nó bối rối lắm vì không biết phải đưa Thái-tử đi đâu cho Thái-tử đỡ buồn, nhưng sau, nó vận dụng sự suy nghĩ, quyết định đi về những cánh rừng thưa, những ngọn đồi xa đô thị, những bờ sông êm ả vắng bóng đò. Nó mơ hồ thấy như Thái-tử đang có điều gì bận tâm lắm. Vậy thì, chỉ những nơi tĩnh lặng Thái-tử mới thong thả suy nghĩ được mà thôi. Đôi khi nó cảm động đến chảy nước mắt khi Thái-tử thì thầm, tâm sự với nó “Kanthaka ơi, chắc rồi ta phải ra đi. Đi đâu, ta chưa biết chắc, nhưng phải đi mới tìm được. Tìm gì ư? Ta cũng chưa thấy rõ hình dáng cái ta muốn tìm là gì, nhưng chắc chắn phải có cái đó, ở đâu đây, hay đang ở chính trong ta không chừng. Đó là cái có thể vượt ra ngoài những giây trói của bao đau khổ chập chùng trong kiếp người. Nếu tìm được, hiểu được từ đâu mà đau khổ thì mới mong diệt khổ. Nhưng này, Kanthaka, làm sao ta có thể tĩnh tâm tìm được cái điều sâu thẳm, mơ hồ đó, khi hàng ngày, hàng giờ ta mãi quẩn quanh trong trói buộc của phù phiếm, xa hoa? Ta phải chặt đứt giả tạm này mới mong tìm ra chân lý. Ta đã quyết thế rồi, Kanthaka ơi! Nhưng ta không thể chia xẻ điều này với bất cứ ai, vì nhân danh tình thương, ta sẽ bị những người yêu thương ta cản bước.” Kanthaka đã nhiều lần nghe Thái-tử bồi hồi nói như thế, và lần nào nó cũng cọ đầu vào lòng Thái-tử. Nó muốn nói rằng, dù Thái-tử đi đâu thì chắc chắn nó cũng đi theo, chắc chắn như thế, vì Thái-tử làm sao đi bộ được! Nhưng Kanthaka đã lầm! Một đêm mồng tám tháng hai, nó đã thiu thiu ngủ thì thấy Channa mở cổng bước vào. Không nói năng gì, Channa lẳng lặng đắp yên cương, đeo túi da gồm bánh ngọt, trái cây và nước uống. Nó dậm nhẹ vó, ý hỏi “Thái-tử đi đâu giờ khuya khoắt này?” nhưng dáng điệu Channa bồn chồn như chính Channa cũng chưa biết. Một lát thì từ phía đông-cung, một bóng người nhẹ nhàng, thoăn thoắt đi xuống. Đó là Thái-tử Tất-Đạt-Đa. Channa đứng bật dậy. Thái-tử cũng ngạc nhiên khi thấy Channa và nhất là nhìn thấy nó đã được trang bị đầy đủ cho một chuyến đi. Đi đâu? Nó không biết. Nó nghe Thái-tử hỏi nhỏ Channa -Anh biết ta sẽ đi đêm nay? Và giọng Channa đầy nước mắt -Thưa, thần không biết. Chỉ tuân lời Lệnh Bà xuống chuẩn bị cho Kanthaka. Và giọng Thái-tử xúc động, như nói với chính mình -Da-Du-Đà-La yêu quý, thì ra em đã đoán biết. Rồi không chậm trễ, Thái-tử vừa nhảy lên mình nó, vừa bảo Channa -Thôi được, anh đã tới đây thì cùng đi với ta một đoạn đường. Channa cũng vội vã dắt hồng-mã ra. Thoáng chốc, đôi bạn đã ra ngoài cửa thành mà không một ai hay biết. Bên ngoài thành, Thái-tử chợt dừng lại, quay nhìn hoàng cung, rồi vòng tay, lạy ba lạy. Sự việc xảy ra trong thầm lặng, chớp nhoáng, nhưng đủ cho nó cảm nhận điều gì đó, rất nghiêm trọng trong chuyến đi này. Bất ngờ, Thái-tử bảo Channa -Về hướng Nam. Rồi giật giây cương. Nó lập tức tuân lệnh, phi nước đại. Hồng-mã cũng chồm lên, theo sau. Trên trời đêm, trăng và sao lấp lánh soi đường cho đôi bạn. Đôi ngựa cũng phi nhanh theo tay cương, đi mãi như thế đến khi ánh dương vừa rạng cuối chân trời thì tới biên giới vương quốc lân bang. Nơi đây có con sông nhỏ, hiền hòa chảy ngang. Thái-tử và Channa cùng xuống, dắt nó và hồng-mã qua chỗ sông cạn . Sang bên kia bờ, đôi bạn vẫn nhắm hướng Nam, đi thêm một đỗi nữa. Tới bìa rừng đầy hoa vàng và trúc xanh thì Thái-tử ghìm cương, bước xuống. Channa cũng làm theo như thế. Hình như khi đó, trên trời có một vầng mây xám bay ngang. Thái-tử xõa tóc ra phía trước, rút thanh đoản kiếm đeo bên hông, và trong tích tắc đã cắt đứt mái tóc xanh, trao cho Channa. Bây giờ Thái-tử mới nói rõ - Channa, người bạn thân thiết của ta, anh hãy mang lọn tóc này về, dâng phụ hoàng và mẫu hậu. Hãy thay ta mà thưa rằng, ta quyết phải tìm cho ra con đường giải thoát khổ đau cho nhân loại. Ta chưa biết rõ sẽ bắt đầu từ đâu và đi đâu, nhưng lại biết chắc chắn là ĐÃ TỚI LÚC TA PHẢI BIẾN NHỮNG THÔI THÚC TRONG LÒNG THÀNH HÀNH ĐỘNG. Hành động đó là xuất gia. Từ nay, ta sẽ sống đời sa-môn không nhà, ta sẽ tự chăm sóc mình trên đường tìm đạo. Channa còn ngẩn ngơ thì Thái-tử quay sang, xoa đầu nó - Con không chỉ là một con ngựa giỏi mà còn là một người bạn tốt. Con đã đưa ta đi biết bao đoạn đường và ở đoạn cuối này, con vẫn hoàn tất nhiệm vụ tốt đẹp. Con đã đưa ta đến nơi ta muốn. Nhưng nơi đây, chúng ta phải chia tay. Channa sẽ dắt con và hồng-mã cùng trở lại hoàng cung. Khi nào tìm ra đạo cả, ta hứa sẽ về thăm. Ta cám ơn Channa. Ta cám ơn con. Bây giờ, Channa mới lượng định được phần nào sự nghiêm trọng. Channa quỳ sụp xuống trước Thái-tử, khóc òa lên - Con lạy Điện-hạ, Điện-hạ đi đâu cũng xin cho con theo hầu. Điện-hạ là cành vàng lá ngọc, làm sao sống đời Sa-môn lang thang cực khổ được. Làm sao con dám quay về, đưa tin hãi hùng này lên hoàng gia! Trăm lạy Điện-hạ, xin Điện-hạ thương con. Khi ấy, Thái-tử vừa cảm động, vừa buồn cười, nhìn Channa mà nói rằng - Có vị Sa-môn nào đi tu mà còn mang theo người hầu không? Vả lại, anh là người duy nhất có thể giúp ta mang tin về, anh cũng biết như thế, phải không? Giờ này, có lẽ mọi người đang nhốn nháo tìm ta. Anh nên giúp ta, về mau đi! Channa là một người thông minh nên đã hiểu rõ ngay trạng huống. Thái-tử ôm bạn, vuốt ve nó và hồng-mã rồi quay lưng, đi vào rừng. Channa đứng lặng, nhưng bật khóc thành tiếng, khóc nức nở. Cả ba, người và ngựa đều đứng lặng như thế, rất lâu. Ba trái tim đều như cùng theo sát bước chân vị Thái-tử vừa rời bỏ cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con khôn, bước những bước chân trần đầu tiên, quyết đi tìm những sự thật mầu nhiệm từng bị vô minh che lấp khiến muôn loài triền miên trong luân hồi đau khổ. Cả ba, người và ngựa đứng lặng như thế cho đến khi hình dáng vị Thái-tử đã khuất hẳn sau bóng lá cây rừng. Đó là ngày Thái-tử Tất-Đạt-Đa xuất gia. Hàng năm, cứ đến ngày mùng 8 tháng 2 âm lịch, Phật tử khắp nơi lại thành tâm làm lễ kỷ niệm ngày xuất gia của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Một niềm tin vĩ đại mà Đức Phật đã cho tất cả chúng sanh là “Tất cả chúng sanh đều có thể thành Phật”. >>Những giáo lý Phật giáo nên đọc Sau khi thái tử Tất Đạt Đa giành chiến thắng vang dội cả về võ thuật lẫn thể thao trong tất cả các cuộc thi tài kén chọn phò mã của nàng công chúa vô cùng kiều diễm, thanh cao và hiền thục Da Du Đà La, Quốc vương Tịnh Phạn vô cùng vui mừng và tổ chức một lễ thành hôn long trọng, xa hoa theo đúng nghi thức hoàng gia cho Thái tử. Lúc đó, Đức Phật mới mười sáu tuổi với dung mạo tuấn tú phi phàm và phong thái thanh lịch, hòa nhã. Cuộc sống vương quyền giàu sang Sau khi thái tử Tất Đạt Đa giành chiến thắng vang dội cả về võ thuật lẫn thể thao trong tất cả các cuộc thi tài kén chọn phò mã của nàng công chúa vô cùng kiều diễm, thanh cao và hiền thục Da Du Đà La, Quốc vương Tịnh Phạn vô cùng vui mừng và tổ chức một lễ thành hôn long trọng, xa hoa theo đúng nghi thức hoàng gia cho Thái tử. Ảnh minh họa Thời đó, các thành viên hoàng tộc, đặc biệt là vị thái tử sẽ kế thừa ngôi vua, thường kết hôn rất sớm, vì vậy Thái tử Tất Đạt Đa không có lựa chọn nào khác ngoài vâng lệnh phụ vương. Theo tục lệ cổ truyền, một vị vua được quyền có nhiều thê thiếp, vì vậy phụ vương của Ngài đã tuyển lựa thêm cho Thái tử những phi tần xinh đẹp thuộc giai cấp quý tộc như nàng mrigaja Ridagkye, nàng gopa Satshoma và nàng yashakhi Dragdenma và ban cho Thái tử sáu nghìn cung phi mỹ nữ. Quốc vương Tịnh Phạn muốn con trai của mình được thỏa mãn tất cả mọi ý thích, ước muốn, như vậy Thái tử sẽ hài lòng với địa vị tôn quý và thụ hưởng mọi giàu sang, dục lạc thế gian, đồng thời canh giữ cẩn mật khiến Thái tử không có cơ hội từ bỏ đời sống vương giả xa hoa để đi theo chí nguyện tâm linh thúc giục tìm chân lý của sự sống. Lúc đó, sống trong cung điện tráng lệ với hàng ngàn cung phi mỹ nữ, thái tử Tất Đạt Đa đáp ứng mọi mong chờ của mọi người ở một vương tử mẫu mực. Ngài chăm lo cho công chúa Da Du Đà La, chính thê của Ngài, cùng tất cả phi tử của mình với tình yêu thương, lòng từ ái bình đẳng, vô phân biệt. Mặc dù không nhìn thấy bất kỳ cảnh khổ sở, đau đớn nào, xung quanh Thái tử chỉ có những cảnh sắc vui tươi, cao lương mỹ vị, nhã nhạc du dương, hoa viên thơm ngát và Ngài được xưng tán, chúc tụng với những ngôn từ cung kính, êm ái của các phi tử, quần thần, Thái tử Tất Đạt Đa vẫn bền bỉ nuôi dưỡng ước nguyện duy nhất vốn sẵn có trong mình là được từ bỏ cuộc sống hoàng gia để hoàn thành một điều gì đó thực sự ý nghĩa vì lợi ích hết thảy chúng sinh. Mười ba năm sống cùng các phi tử vô cùng dịu dàng và quyến rũ, nhưng Thái tử cảm thấy cuộc sống này thật vô nghĩa nếu không đạt giác ngộ. Trong suốt mười ba năm đó, mặc dù được phụ vương chăm lo, không thiếu thốn bất kỳ khoái lạc vật chất gì, nhưng càng ngày Thái tử càng tò mò muốn biết xem dân chúng lao động, sinh sống ra sao. Mười ba năm sống cùng các phi tử vô cùng dịu dàng và quyến rũ, nhưng Thái tử cảm thấy cuộc sống này thật vô nghĩa nếu không đạt giác ngộ. Ảnh minh họa Bốn cảnh màThái tử Tất Đạt Đa thấy Vào một ngày đẹp trời, Thái tử thực hiện một chuyến dạo chơi bằng xe ngựa dọc theo khu vườn thượng uyển lộng lẫy và rực rỡ sắc hoa cùng với đoàn tùy tùng vài ngàn người. Thoạt tiên, có vẻ như đây chỉ là một chuyến dạo mát thông thường trong một buổi chiều nắng đẹp, nhưng sau đó Thái tử chứng kiến một quang cảnh khác thường làm Ngài suy tư về bản chất của đời sống con người. Đặc biệt, Ngài bắt đầu nhận ra đời sống trong hoàng cung chẳng khác nào ngục tù không lối thoát. Thái tử nhận thấy những người thuộc dòng dõi quý tộc luôn căng thẳng, lo lắng vì bảo vệ của cải, địa vị và họ không hề nghĩ đến ai, chỉ chăm chăm quan tâm đến lợi ích của gia đình. Vào một ngày đẹp trời, Thái tử thực hiện một chuyến dạo chơi bằng xe ngựa dọc theo khu vườn thượng uyển lộng lẫy và rực rỡ sắc hoa cùng với đoàn tùy tùng vài ngàn người. Ảnh minh họa Đầu tiên, Đức Phật nhìn thấy một ông già rách rưới bẩn thỉu, đầu tóc rối bù, gầy gò như một bộ xương khô. Thân hình của người đó run rẩy theo từng bước chân, và khi ông ta nói thì chỉ là những từ bắp bắp không thể hiểu nổi. Thái tử choáng voáng khi thấy hình ảnh một con người thê thảm như vậy. Ngài nhìn lại bản thân mình, những ngón tay nuột nà, trẻ trung được trang điểm bằng ngọc ngà, châu báu và Ngài trầm tư suy ngẫm, liệu có một ngày mình cũng sẽ có cùng số phận như con người đáng thương kia tóc sẽ bạc, răng sẽ rụng, thân thể sẽ gày còm già yếu phải chống gậy khi bước đi, và đầu óc sẽ lẩn thẩn, mụ mẫm. Đầu tiên, Đức Phật nhìn thấy một ông già rách rưới bẩn thỉu, đầu tóc rối bù, gầy gò như một bộ xương khô. Ảnh minh họa Khi Thái tử Tất Đạt Đa đi ra ngoài hoàng cung, cảnh tượng thứ hai Ngài nhìn thấy là một người đàn ông ốm yếu, khuôn mặt tái nhợt không còn chút huyết sắc, toàn thân đầy những vết thương rỉ máu, mưng mủ lở loét như một xác chết đang rữa nát, bốc mùi hôi thối. Thái tử chưa bao giờ thấy một người ốm bệnh trong hoàng cung. Ngài suy ngẫm, thân thể con người được cấu thành bởi máu và thịt nên không thể tránh khỏi bệnh tật, đau ốm và cuối cùng sẽ bị rữa nát. Thậm chí, mặc dù thân thể của những thành viên trong hoàng tộc luôn được phục sức bằng lụa là gấm vóc, được tô điểm bằng ngọc ngà châu báu nhưng họ cũng như người đàn ông này, vẫn phải chịu đựng bệnh tật và đau đớn. Vậy thì dù ngự tại cung vàng điện ngọc trong giàu sang phú quý, cung tần mỹ nữ vây quanh, thụ hưởng vô số dục lạc thế gian thì cũng có ý nghĩa gì? Và thế là Thái tử Tất Đạt Đa bắt đầu trăn trở làm cách nào có thể đạt được trí tuệ toàn giác, thấu hiểu về bản chất của sự sống để thoát khỏi đau khổ, bệnh tật. Cảnh tượng thứ ba Ngài chứng kiến là một xác chết được khâm liệm bằng mảnh vải và rắc bên trên là những tràng hoa như một lời vĩnh biệt người khuất bóng, xung quanh là bà con họ hàng rũ rượi than khóc thảm thiết. Người đứng kẻ ngồi, vò đầu đấm ngực, kêu khóc than vãn họ không thể tin rằng thần chết đã cướp mất người thân yêu của mình, người tưởng chừng như không bao giờ chia lìa, rời xa họ. Tâm trí họ tràn ngập sự đau khổ, mất mát, họ than khóc và kêu gào trong nỗi bi thương cùng cực. Khi nghe thấy những tiếng than khóc và chứng kiến cảnh mọi người đau đớn trước nỗi khổ sinh tử phân ly, Thái tử cảm nhận nỗi đau ấy thật là cùng cực không thể nào chịu nổi. Toàn thân Ngài run rẩy và nước mắt tuôn trào. Ngài chẳng biết làm gì khác ngoài chia sẻ nỗi buồn và niềm thương tiếc đối với những người đang đau khổ vì mất mát người thân. Cảnh tượng thứ ba Ngài chứng kiến là một xác chết được khâm liệm bằng mảnh vải và rắc bên trên là những tràng hoa như một lời vĩnh biệt người khuất bóng, xung quanh là bà con họ hàng rũ rượi than khóc thảm thiết. Ảnh minh họa Cảnh tượng thứ tư Thái tử nhìn thấy là một vị tăng khoác tấm y vàng đơn sơ, giản dị, trên tay cầm bình bát, bước đi trong tĩnh lặng, tự tại đến nỗi như thể sự an lành thấm nhuần mặt đất theo từng bước chân ông, như thế trả về cho Đất Mẹ mọi thứ được ban tặng vô cùng hào phóng. Thật ra, vị tăng sỹ đặc biệt này được một sứ giả từ cõi thiên hóa hiện ra, để khích lệ Ngài từ bỏ đời sống vương giả. Khi ngắm nhìn vị tăng, Thái tử cảm thấy từ sâu thẳm lòng mình tràn ngập niềm an lành, hỷ lạc và Ngài tự nhủ cuộc sống xuất gia thật lý tưởng và cao thượng, nếu Ngài có thể từ bỏ những tham vọng thế tục và dâng hiến trọn đời theo đuổi chí nguyện tâm linh. Sau khi chứng kiến bốn cảnh tượng khác nhau, Thái tử Tất Đạt Đa hỏi những người hầu cận rằng có bao nhiêu người trong vương quốc phải chịu đau khổ như vậy. Họ thưa rằng không ai có thể tránh khỏi cảnh sinh già bệnh chết. Song họ cũng không biết đến một vị tu sỹ nào trong vương quốc có thể hoàn toàn từ bỏ mọi mục đích vị kỷ để phục vụ lợi ích tha nhân. Trên đường trở về hoàng cung, Thái tử nhìn thấy những người nông dân mặt mũi lấm lem, đầu tóc bê bết bụi bặm, đang cực nhọc lao động trên những cánh đồng. Chân tay của họ nứt nẻ và chảy máu, nhưng họ dường như không chú ý tới sự đau đớn đó. Da họ phồng rộp và bị thiêu đốt trong ánh nắng gay gắt vì phải làm việc hàng ngày dưới mặt trời chói chang. Dù thân thể như que củi, gầy còm và yếu ớt, nhưng để kiếm kế sinh nhai, họ cùng với đàn bò vẫn phải vất vả cày bừa, gieo trồng trên những thửa ruộng. Thái tử nhận ra họ sắp chết vì đói và khát. Quá thương xót những người nông dân và đàn bò lao lực, Ngài tặng họ rất nhiều đồ ăn thức uống và các loại nước bổ dưỡng. Ngài cho hầu cận xoa dầu và thuốc vào cổ các chú bò để chữa trị những vết thương trày trụa do phải mang ách kéo cày vô cùng nặng nhọc. Cuối chặng đường trở về hoàng cung, mặt trời tỏa nắng gay gắt, Thái tử và đoàn tùy tùng dừng chân nghỉ ngơi dưới bóng mát của một cây cổ thụ có tán lá tỏa rộng. Vì chuyến đi của Thái tử kéo dài khá lâu nên Quốc vương Tịnh Phạn vô cùng lo lắng, bèn cưỡi voi cùng với binh lính hộ vệ đi tìm con trai mình. Khi Quốc vương tìm thấy Thái tử đang an bình nghỉ ngơi trong bóng mát của cây cổ thụ, Quốc vương nhận thấy rằng mặc dù lúc đó mặt trời đã di chuyển sang hướng khác, nhưng bóng cây vẫn ở nguyên tại chỗ, lặng lẽ tỏa bóng mát cho Thái tử. Thấy hiện tượng kỳ diệu này, Quốc vương liền cúi đầu đỉnh lễ con trai mình. Ông cảm thấy ngay cả những vật vô tri vô giác như cây cối cũng sẵn sàng trợ giúp Thái tử, đây là dấu hiệu cho thấy Đức Phật đã tích lũy được vô lượng công đức và hoàn toàn xứng đáng để nhận sự kính trọng từ chính bậc phụ vương. Trong khi cả đoàn tùy tùng đang ngủ thiếp đi dưới bóng cây cổ thụ, người hầu cận riêng của Thái tử tâu lại cho Quốc vương về bốn cảnh tượng Thái tử đã nhìn thấy ở ngoài hoàng cung và gây những ảnh hưởng bất thường, mạnh mẽ cho Thái tử. Thái tử thấu hiểu sâu sắc những cảnh tượng đau khổ và vô cùng thương xót chúng sinh. Anh ta cũng kể cho Quốc vương rằng tấm y khoác của vị tu sĩ khổ hạnh đó, người đã từ bỏ cuộc sống thế tục, đã lôi cuốn Thái tử như thế nào. Nghe thấy như vậy, nỗi lo sợ rằng con trai mình sẽ rời bỏ hoàng cung và trở thành tu sĩ như một nhà thông thái Bà la môn đã tiên đoán trước vốn vẫn ẩn náu trong lòng Quốc vương Tịnh Phạn lại trỗi dậy. Ngài ra lệnh cho binh lính hầu cận canh phòng Thái tử cẩn mật hơn và chu cấp cho con trai mình tất cả tiện nghi, lạc thú, thậm chí Ngài còn tuyển thêm phi tần cho Thái tử, hy vọng rằng những điều này sẽ cuốn hút Thái tử an lòng hưởng thụ đời sống vương giả mãi mãi với nội cung gồm sáu mươi nghìn cung tần mỹ nữ! Cuối buổi chiều, Thái tử và đoàn tùy tùng tỉnh giấc, rời khỏi tán cây mát mẻ và tiếp tục lên đường trở về hoàng cung. Họ đi ngang qua một nghĩa địa, nơi có hàng trăm thi thể nằm la liệt trên mặt đất, lũ chó sói, chó rừng và chim kền kền đang tranh giành xác chết, chúng ăn thịt, liếm máu, gặm xương, lôi móc nội tạng người chết. Thái tử Tất Đạt Đa kinh hoàng và đau xót khi nhìn thấy sự mong manh của thân thể con người và sự ngắn ngủi của một kiếp sống. Tâm ý Ngài đã hoàn toàn chuyển biến. Bất chấp sự giàu sang, lạc thú đang chờ đợi nơi hoàng cung, trong lòng Thái tử chỉ có một nguyện ước duy nhất là rời bỏ đời sống vương giả để trở thành một vị tu sĩ tìm đạo chân chính. Thái tử tin rằng nếu trở thành một tu sỹ đạo hạnh, Ngài sẽ có khả năng giúp ích cho chúng sinh nhiều hơn là trở thành một vị vua quyền lực mà không biết khổ đau thực sự của thế gian. Kể từ ngày đó, Thái tử không còn cảm thấy vui thú gì với cuộc sống vương giả nữa. Nguồn

hoàng tử tất đạt đa